Thực tế lâm sàng cho thấy bệnh nhân hen nặng có nguy cơ nhập viện cấp cứu cao gấp 10 lần và nguy cơ tử vong cao gấp đôi so với nhóm hen nhẹ và trung bình. Mỗi năm, nhiều bệnh nhân phải trải qua từ hai đợt kịch phát trở lên, mỗi đợt là một lần nhập viện làm gián đoạn cuộc sống, suy giảm chức năng hô hấp và một lần chất lượng sống bị bào mòn thêm. Điều đáng lo ngại hơn, để duy trì kiểm soát bệnh, nhiều bệnh nhân buộc phải sử dụng corticosteroid đường uống kéo dài. Dù giúp kiểm soát triệu chứng trước mắt nhưng việc sử dụng thuốc lâu dài có thể dẫn đến nhiều biến chứng như loãng xương, đái tháo đường, đục thủy tinh thể hay bệnh lý về tim mạch.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Lê Khắc Bảo, Phó Giám đốc Bệnh viện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết: "Kiểm soát được hen nhưng lại sinh ra những bệnh khác đó là thực trạng nhiều bệnh nhân hen nặng đang phải chấp nhận như một điều hiển nhiên." Theo ông, điều trị hen nặng tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn bởi người bệnh thường có nhiều yếu tố kích phát đồng thời, kèm theo các bệnh lý nền như béo phì, trào ngược dạ dày-thực quản hoặc ngưng thở khi ngủ. Hiện tỷ lệ bệnh nhân hen nặng được kiểm soát tốt mới đạt khoảng hơn 39%, trong khi hơn một phần ba bệnh nhân phải sử dụng corticosteroid toàn thân nhiều lần trong năm.
Hạn chế của cách tiếp cận cũ
Trong nhiều năm, mục tiêu điều trị hen chủ yếu dừng lại ở việc giảm triệu chứng và hạn chế đợt cấp. Tuy nhiên, với hen nặng cách tiếp cận này đang bộc lộ những giới hạn rõ rệt. Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Văn Thọ, Trưởng bộ môn Lao và bệnh phổi, Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh, nhìn nhận: "Dù tỷ lệ hen nặng không cao nhưng chi phí điều trị lại chiếm tỷ trọng rất lớn do bệnh nhân thường xuyên nhập viện, điều trị kéo dài và gặp nhiều biến chứng. Điều đó đòi hỏi phải thay đổi cách tiếp cận cả ở cấp độ điều trị cá nhân lẫn quản lý hệ thống."
Hướng đi mới: Liệu pháp sinh học Tezepelumab
Trước yêu cầu đó, y học hô hấp hiện đại đang chuyển từ mục tiêu kiểm soát triệu chứng sang mục tiêu cao hơn là lui bệnh lâm sàng. Đây là trạng thái người bệnh không còn đợt kịch phát, không phải sử dụng corticosteroid đường uống kéo dài, triệu chứng được kiểm soát bền vững và chức năng hô hấp ổn định lâu dài. Một trong những hướng đi mới được giới chuyên môn đánh giá cao là liệu pháp sinh học thế hệ mới Tezepelumab, tác động lên TSLP (một loại cytokine biểu mô đóng vai trò khởi phát toàn bộ chuỗi phản ứng viêm đường thở) yếu tố khởi phát chuỗi phản ứng viêm đường thở.
Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ David Jackson, Đại học King’s College London, Vương quốc Anh, cho biết: "Ức chế TSLP là can thiệp vào gốc rễ của bệnh thay vì chỉ xử lý hậu quả của quá trình viêm." Các nghiên cứu quốc tế cho thấy hơn một phần ba người bệnh có thể đạt lui bệnh lâm sàng khi sử dụng liệu pháp này. Tại Việt Nam, dữ liệu bước đầu cũng ghi nhận khả năng giảm từ 60-70% số đợt kịch phát ở người bệnh hen nặng bất kể kiểu hình bệnh hay dấu ấn sinh học.
Thách thức trong tiếp cận điều trị
Nhìn từ góc độ người bệnh, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Lê Thị Tuyết Lan, Chủ tịch Liên chi hội Hen-Dị ứng-Miễn dịch lâm sàng Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết: dù bảo hiểm y tế đã hỗ trợ đến khoảng 80% chi phí và các dạng thuốc xịt trực tiếp vào phổi đã được cải thiện đáng kể về độ an toàn, thách thức lớn vẫn còn ở việc tuân thủ điều trị và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế tại vùng sâu, vùng xa. Nói cách khác, ngay cả khi thuốc tốt hơn đã có nhưng hành trình đến tay người bệnh vẫn còn nhiều rào cản. Tiến bộ khoa học chỉ thực sự có ý nghĩa khi người bệnh có cơ hội tiếp cận.
Hiện nay, việc triển khai các liệu pháp sinh học tại Việt Nam vẫn gặp nhiều trở ngại như chi phí điều trị cao, thiếu các trung tâm chuyên sâu về hen nặng, hạn chế trong chẩn đoán kiểu hình bệnh và năng lực phát hiện sớm ở tuyến cơ sở. Các chuyên gia cho rằng, cần đẩy mạnh đào tạo bác sĩ tuyến dưới, xây dựng mạng lưới quản lý hen chuyên sâu và từng bước hoàn thiện chính sách bảo hiểm y tế để mở rộng khả năng tiếp cận các liệu pháp điều trị tiên tiến. Hen nặng không còn là câu chuyện của riêng người bệnh hay bác sĩ điều trị, đây là bài toán của cả hệ thống y tế. Khi khoa học đã mở ra hướng đi mới, nhiệm vụ đặt ra là biến những thành tựu đó thành lợi ích thật sự cho người bệnh. Để người bệnh được sớm thụ hưởng tiến bộ này, cần sự đồng hành thật sự giữa chính sách, chuyên môn và thực hành lâm sàng, đây là điểm then chốt giúp tương lai của hàng trăm nghìn người bệnh hen nặng ít gặp đợt cấp hơn, ít phụ thuộc thuốc hơn và chất lượng sống được nâng cao bền vững, thực chất hơn.



