Bộ Y tế hoàn thiện đề án chiến lược du lịch y tế
Bộ Y tế đang hoàn thiện dự thảo Đề án Phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2040. Mục tiêu tới năm 2030, Việt Nam trở thành điểm đến chăm sóc sức khỏe uy tín, cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á và vươn lên nhóm dẫn đầu châu lục. Thị trường du lịch y tế trị giá tỉ USD chính thức được nâng tầm thành chiến lược quốc gia.
Nha khoa - 'át chủ bài' thu hút khách quốc tế
TS-BS Kiều Quốc Thoại, giảng viên Trường ĐH Y Dược TP.HCM, cho biết lượng khách quốc tế đến điều trị nha khoa tại Việt Nam gia tăng rõ rệt. Bên cạnh khách từ Nhật Bản, Đài Loan và Trung Quốc đại lục đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam, nhiều Việt kiều từ Mỹ, Nhật, Úc cũng về nước để khám và điều trị. Nhiều gia đình kết hợp thăm thân, nghỉ dưỡng với chăm sóc sức khỏe răng miệng.
Bác sĩ Thoại dẫn chứng: một số gia đình đang sinh sống tại Úc đưa con về Việt Nam chỉnh nha hoặc điều trị các bệnh lý răng miệng do chi phí tại nước sở tại cao, trong khi nhiều dịch vụ không được bảo hiểm chi trả. Tốc độ phục vụ cũng là ưu thế: tại một số quốc gia phát triển, bệnh nhân phải chờ nhiều tuần hoặc nhiều tháng để có lịch hẹn, trong khi ở Việt Nam, lịch điều trị có thể được bố trí linh hoạt và tập trung hơn. Đội ngũ kỹ thuật viên labo trong nước có tay nghề cao, giúp nhiều ca điều trị được giải quyết trong khoảng 1 - 2 tuần - thời gian phù hợp với một kỳ nghỉ.
Mức chênh lệch chi phí tạo lợi thế cạnh tranh đáng kể. Một ca cấy ghép implant tại Việt Nam có giá khoảng 1.000 - 1.500 USD mỗi trụ, trong khi tại Mỹ hoặc Úc có thể cao gấp ba đến bốn lần, dù sử dụng cùng hệ thống implant và vật liệu tương đương. Với niềng răng trong suốt Invisalign, mức giá tại Nhật Bản có thể lên đến khoảng 10.000 USD một ca, trong khi tại Việt Nam phổ biến ở mức 4.000 - 5.000 USD. "Nhờ tiết kiệm được đáng kể chi phí điều trị, nhiều bệnh nhân vẫn còn đủ ngân sách cho vé máy bay, nghỉ dưỡng, du lịch hoặc thăm người thân. Đây chính là một lợi thế rất lớn để phát triển du lịch nha khoa tại Việt Nam", TS-BS Kiều Quốc Thoại nhìn nhận.
IVF và y học cổ truyền: Thế mạnh vượt trội
Không chỉ nha khoa, bản đồ du lịch y tế của Việt Nam còn mở rộng ra nhiều lĩnh vực phức tạp như can thiệp tim mạch, ghép tạng, thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), phẫu thuật robot. Số liệu từ Bộ Y tế cho thấy mỗi năm có đến 300.000 người nước ngoài và kiều bào chọn Việt Nam làm nơi khám bệnh, với hơn 50.000 người điều trị nội trú.
Trong lĩnh vực IVF, Việt Nam đang là "thủ phủ" của Đông Nam Á với hơn 50.000 ca mới mỗi năm. Tỷ lệ thành công vượt trội đạt từ 40 - 50%, thậm chí một số trung tâm lớn đạt lên đến 70%, trong khi tỷ lệ trung bình của thế giới chỉ khoảng 40 - 43%. Một ca IVF tại Việt Nam có chi phí dao động khoảng 80 - 120 triệu đồng (khoảng 3.200 - 5.000 USD) trong khi tại Singapore hay Thái Lan giá gấp 2 - 3 lần (khoảng 10.000 USD), còn tại Mỹ lên tới 25.000 USD. Số lượng các cặp vợ chồng từ Úc, Mỹ, châu Âu và các nước Đông Nam Á đến với các bệnh viện như Từ Dũ, Tâm Anh, Đức Phúc tăng mạnh mỗi năm.
Y học cổ truyền kết hợp phục hồi chức năng cũng đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ. Ghi nhận từ Bệnh viện Y học Cổ truyền TP.HCM, Viện Châm cứu Trung ương cho thấy số lượng Việt kiều và khách quốc tế - đặc biệt từ Nhật Bản, Anh, New Zealand, Pháp - tới Việt Nam điều trị bằng Đông y tăng cao. Nhiều bệnh nhân bị các chứng bệnh mãn tính về cơ xương khớp, tai biến, hoặc suy nhược sau phẫu thuật đã điều trị nhiều năm ở các nước phương Tây không đỡ, nhưng khi về Việt Nam thực hiện các liệu trình châm cứu, bấm huyệt, dùng thuốc Nam và tắm khoáng phục hồi thì lại đạt hiệu quả tích cực rõ rệt.
Ngay cả với các căn bệnh phức tạp, tay nghề của y bác sĩ Việt Nam được thế giới công nhận. Phương pháp phẫu thuật nội soi tuyến giáp của PGS-TS Trần Ngọc Lương (Bệnh viện Nội tiết Trung ương) đã thu hút hơn 270 bác sĩ từ 15 quốc gia (bao gồm Singapore, Úc, Bồ Đào Nha, Ả Rập Xê Út) sang Việt Nam để học tập. Các ca đại phẫu như can thiệp tim mạch phức tạp, phẫu thuật bướu hoặc ghép tạng cũng ghi nhận lượng bệnh nhân từ Lào, Campuchia và người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam tin tưởng lựa chọn.
Hệ sinh thái kết hợp chữa bệnh - nghỉ dưỡng
Các bệnh viện lớn tại TP.HCM và Hà Nội như hệ thống FV, Vinmec, Đại học Y Dược, Răng Hàm Mặt Trung ương đã chủ động xây dựng quy trình tiếp đón riêng cho khách du lịch, số hóa 100% dịch vụ và liên kết với các hãng lữ hành lớn để bao trọn gói từ khâu đưa đón sân bay, điều trị đến nghỉ dưỡng phục hồi. Tại các thủ phủ du lịch, hạ tầng dịch chuyển mạnh mẽ sang du lịch chăm sóc sức khỏe (Wellness Tourism) với các khu nghỉ dưỡng phức hợp kết hợp y học cổ truyền, tắm khoáng nóng ở Khánh Hòa, Lâm Đồng hay các trung tâm detox, thiền định cao cấp.
Tại Đà Nẵng và Phú Quốc, mô hình hệ sinh thái khép kín đẳng cấp quốc tế đang định hình rõ nét. Hệ thống bệnh viện đa khoa quốc tế 5 sao của Vingroup hay Sun Group đặt ngay trong các khu lưu trú cao cấp đã xóa nhòa khoảng cách giữa "đi chữa bệnh" và "đi nghỉ dưỡng". Giai đoạn điều trị hoặc phục hồi hậu phẫu, người bệnh được chuyển tiếp sang hệ sinh thái lưu trú cao cấp ngay bên cạnh, được chăm sóc với chế độ dinh dưỡng chuyên biệt, kết hợp y học cổ truyền và các hoạt động tái tạo năng lượng.
Thị trường tăng trưởng vượt bậc, hướng tới 4 tỉ USD
Theo ước tính từ IMARC Group, quy mô thị trường du lịch y tế Việt Nam đã đạt khoảng 700 - 850 triệu USD và được dự báo sẽ bứt phá mạnh mẽ, hướng tới cột mốc gần 4 tỉ USD vào năm 2033 với tốc độ tăng trưởng trung bình lên tới 18% mỗi năm. Lượng khách đến Việt Nam với mục đích chính hoặc có kết hợp khám chữa bệnh, nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe hiện chiếm khoảng 3 - 5% tổng lượng khách quốc tế. Con số này tại các đô thị lớn như TP.HCM có thể lên tới 30 - 40% nếu tính cả lượng khách điều trị nội địa liên tỉnh và nước ngoài.
Một số thị trường đang tạo ra làn sóng chuyển dịch sang Việt Nam, rõ nhất là khách Campuchia. Trong tháng 6 vừa qua, đoàn công tác do Thứ trưởng Bộ TT-TT Campuchia dẫn đầu đã sang Việt Nam tìm hiểu cơ hội hợp tác trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Số liệu từ Cục Du lịch cho thấy Campuchia liên tục lập kỷ lục và chính thức vươn lên trở thành top 5 thị trường gửi khách lớn nhất đến Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng lượng khách tăng vọt khoảng 40%, cao gấp gần 3 lần tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành du lịch. Một bộ phận lớn người dân và tầng lớp trung lưu Campuchia lựa chọn sang Việt Nam (đặc biệt là TP.HCM) với mục đích kép: vừa du lịch mua sắm, vừa khám chữa bệnh.
Thay vì di chuyển sang các nước có chi phí đắt đỏ hơn, các bệnh viện lớn tại Việt Nam trở thành lựa chọn ưu tiên nhờ khách dễ dàng kết nối qua các cửa khẩu đường bộ bằng xe Limousine chất lượng cao hoặc các chuyến bay thẳng ngắn đến TP.HCM. Khách Campuchia đặc biệt tin tưởng tay nghề của bác sĩ Việt Nam trong các lĩnh vực như tầm soát ung thư, can thiệp tim mạch, sản nhi và phẫu thuật ngoại khoa.
Dư địa lớn để trở thành phân khúc giá trị cao
Thầy thuốc ưu tú, BS CKII Ngô Thanh Tân, Phó giám đốc Bệnh viện Mắt - Da liễu Cà Mau, đánh giá: du lịch y tế là lĩnh vực giàu tiềm năng của Việt Nam bởi hội tụ nhiều lợi thế về điểm đến, môi trường an toàn và chất lượng chuyên môn ngày càng được nâng cao. Vị trí giao thoa giữa nhiều không gian văn hóa, hệ sinh thái dược liệu phong phú cùng tri thức bản địa của 54 dân tộc tạo nên nguồn tài nguyên đặc sắc cho các sản phẩm chăm sóc sức khỏe. Châm cứu, xông hơi thảo dược, ngâm chân, dưỡng sinh, trị liệu bằng dược liệu và chế độ dinh dưỡng bản địa vừa mang giá trị chăm sóc sức khỏe, vừa tạo ra trải nghiệm văn hóa khó sao chép.
TS Dương Đức Minh, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế và du lịch TP.HCM, phân tích: Việt Nam đang có khả năng phát triển du lịch y tế trên nhiều phân khúc. Trước hết là khám sức khỏe tổng quát và tầm soát bệnh, nhất là ung thư và các bệnh lý có nguy cơ cao. Tại TP.HCM, Hà Nội và Đà Nẵng, nhiều bệnh viện đã đầu tư hệ thống chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm và thiết bị điều trị hiện đại. Điều trị hiếm muộn cũng được đánh giá là thế mạnh nổi bật. "Khi đặt trong bối cảnh một điểm đến an toàn, chi phí hợp lý, cảnh quan phong phú và mạng lưới hàng không ngày càng mở rộng, những lợi thế này cho thấy du lịch y tế có dư địa lớn để trở thành phân khúc giá trị cao của ngành du lịch Việt Nam", TS Dương Đức Minh nhìn nhận.
Theo báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2026 của Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, ngành du lịch đón khoảng 12,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2025, tương đương 48,8% kế hoạch năm. Lượng khách du lịch nội địa đạt khoảng 81 triệu lượt, hoàn thành 54% kế hoạch. Tổng thu từ khách du lịch ước đạt 569.000 tỉ đồng, tương đương 50,5% mục tiêu đề ra. Ngành du lịch Việt Nam đang duy trì đà tăng trưởng ổn định để hướng tới mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 150 triệu lượt khách nội địa và đạt khoảng 1,125 triệu tỉ đồng doanh thu trong năm 2026.



