Theo thống kê, thế giới hiện có khoảng 296 triệu người đang sống chung với virus viêm gan B (HBV). Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có tỷ lệ nhiễm cao, với tỷ lệ mắc khoảng 8,8% ở nữ giới và 12,3% ở nam giới. Đáng chú ý, mỗi phút có khoảng 2 người không qua khỏi do các biến chứng liên quan căn bệnh này.
Diễn biến bệnh và nguy cơ biến chứng
Theo bác sĩ chuyên khoa II Nguyễn Thị Thùy, Trung tâm Tiêu hóa - Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai, virus HBV có thời gian ủ bệnh kéo dài từ 4-24 tuần. Sau khi nhiễm virus, diễn biến bệnh ở mỗi người có thể khác nhau. “Khoảng 90-95% người trưởng thành nhiễm HBV cấp tính có thể tự đào thải virus và hồi phục. Tuy nhiên, khoảng 5% chuyển sang giai đoạn nhiễm mạn tính. Trong số này, nếu không được điều trị và theo dõi, khoảng 20-30% có nguy cơ tiến triển thành xơ gan hoặc ung thư gan”, bác sĩ Thùy cho biết.
Việt Nam hiện nằm trong nhóm quốc gia có tỷ lệ ung thư gan cao trên thế giới, trong đó nhiễm HBV mạn tính là một trong những nguyên nhân chính. Điều đáng lo ngại là phần lớn người mắc viêm gan B không biết mình nhiễm bệnh bởi triệu chứng ban đầu thường rất mờ nhạt như mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, vàng da, đau tức vùng hạ sườn phải… Những biểu hiện này dễ bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với các bệnh lý thông thường khác.
Phát hiện sớm qua xét nghiệm máu
Theo vị chuyên gia, xét nghiệm máu là phương pháp duy nhất giúp phát hiện sớm tình trạng nhiễm HBV. Các nhóm có nguy cơ cao được khuyến cáo nên chủ động xét nghiệm gồm: phụ nữ mang thai; người tiêm chích ma túy; nam quan hệ tình dục đồng giới; người nhiễm HIV hoặc viêm gan C; người sinh sống tại khu vực có tỷ lệ nhiễm HBV cao (từ 2% trở lên), trong đó có Việt Nam; trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HBV hoặc chưa được tiêm vaccine phòng viêm gan B.
Vaccine – biện pháp phòng bệnh hàng đầu
Tiêm vaccine được xem là biện pháp phòng bệnh hiệu quả hàng đầu. Hiện có nhiều loại vaccine phòng viêm gan B được sử dụng như vaccine tái tổ hợp, có thể tiêm cho nhiều nhóm đối tượng, bao gồm cả trẻ em và phụ nữ mang thai theo chỉ định; vaccine Heplisav-B dành cho người trên 18 tuổi nhưng không sử dụng cho phụ nữ mang thai; hoặc các vaccine phối hợp như Pediarix giúp phòng nhiều bệnh truyền nhiễm ở trẻ nhỏ.
Theo BS Thùy, hiệu quả của chương trình tiêm chủng đã được chứng minh tại nhiều quốc gia. Tại Đài Loan, Trung Quốc và Hàn Quốc, việc triển khai tiêm vaccine viêm gan B giúp giảm 70-84% tỷ lệ ung thư gan ở trẻ em và nhóm tuổi trẻ. Tại Alaska (Mỹ), chương trình tiêm chủng rộng rãi giúp ghi nhận tỷ lệ mắc mới gần như bằng 0.
Đánh giá hiệu quả tiêm chủng và các yếu tố ảnh hưởng
Sau tiêm vaccine, người dân cần lưu ý khả năng đáp ứng miễn dịch có thể khác nhau giữa từng cá thể. Chuyên gia khuyến cáo có thể xét nghiệm anti-HBs sau 1-2 tháng hoàn thành tiêm chủng để đánh giá hiệu quả bảo vệ. Khi nồng độ anti-HBs đạt trên 10 mUI/ml được xem là có đáp ứng miễn dịch. Trong trường hợp không đạt mức bảo vệ (anti-HBs dưới 10 mUI/ml), người dân có thể cần tiêm bổ sung liều cao hơn, thay đổi đường tiêm hoặc sử dụng loại vaccine khác theo hướng dẫn của bác sĩ.
Một số yếu tố làm giảm khả năng tạo miễn dịch sau tiêm gồm tuổi trên 40, béo phì, hút thuốc lá, đái tháo đường, nhiễm HIV… Bên cạnh đó, sau sinh, trẻ cần được tiêm vaccine phòng viêm gan B kết hợp huyết thanh miễn dịch kháng HBV trong vòng 24 giờ đầu tiên để tăng hiệu quả bảo vệ.
Điều trị viêm gan B mạn tính
“Hiện nay, viêm gan B mạn tính chưa có thuốc loại bỏ hoàn toàn virus ở tất cả người bệnh, nhưng các phương pháp điều trị có thể kiểm soát sự nhân lên của HBV, hạn chế tổn thương gan và giảm nguy cơ biến chứng”, bác sĩ Thùy cho hay. Các thuốc kháng virus như Entecavir, Tenofovir có tác dụng ức chế HBV, giúp giảm nguy cơ tiến triển thành xơ gan, ung thư gan.
“Tại Bệnh viện Bạch Mai, việc điều trị viêm gan B được kết hợp giữa phát hiện sớm, tiêm phòng cho nhóm chưa có miễn dịch và sử dụng thuốc kháng virus phù hợp. Người bệnh cần tuân thủ điều trị, tái khám định kỳ để theo dõi tải lượng HBV DNA, men gan và tình trạng tổn thương gan”, BS Thùy chia sẻ.
Với người đã mắc viêm gan B mạn tính, việc sử dụng thuốc kháng virus theo chỉ định và duy trì theo dõi lâu dài đóng vai trò quan trọng nhằm ngăn virus tái hoạt động, hạn chế nguy cơ biến chứng.



