Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư duy theo mục tiêu, luôn gắn liền với việc coi trọng phương tiện, nhờ đó tránh được giáo điều, cứng nhắc và tận dụng hiệu quả cơ hội để hiện thực hóa mục tiêu. Trong kỷ nguyên mới, phương pháp này có ý nghĩa quan trọng đối với hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước.
Phương pháp tư duy Hồ Chí Minh
Tư duy theo mục tiêu và tư duy theo phương tiện
Tư duy theo mục tiêu xuất phát từ việc xác định rõ mục tiêu, lấy mục tiêu làm kim chỉ nam để lựa chọn con đường, phương tiện và sách lược phù hợp. Cách tiếp cận này không tuyệt đối hóa bất kỳ phương tiện cụ thể nào, cho phép điều chỉnh linh hoạt tùy theo hoàn cảnh nhưng vẫn bảo đảm mục tiêu đã định. Ưu điểm nổi bật là hạn chế khuynh hướng giáo điều, cứng nhắc, tăng tính linh hoạt trong hành động. Ngược lại, tư duy theo phương tiện chú trọng nguyên tắc, quy trình, công cụ, có ưu điểm bảo đảm kỷ luật, trật tự và ổn định, nhưng dễ dẫn đến giáo điều nếu nhầm lẫn giữa phương tiện và mục tiêu.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp trình bày về phương pháp tư duy, nhưng qua cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, có thể thấy Người thường vận dụng tư duy theo mục tiêu trên tinh thần nhất quán, linh hoạt, sáng tạo.
Xác định rõ mục tiêu, kiên định thực hiện
Ngay từ khi rời bến Nhà Rồng, Người đã xác định mục tiêu xuyên suốt là giải phóng dân tộc, “giúp đồng bào”. Xuất phát từ mục tiêu đó, Người chủ động đến nhiều nước để khảo nghiệm thực tiễn và tìm đường phù hợp. Khi tham gia Đảng Xã hội Pháp năm 1919, Người khẳng định: “Chỉ vì đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi”. Sau khi tiếp cận Luận cương của Lênin, Người tin theo Quốc tế III vì Luận cương chỉ rõ trách nhiệm giúp đỡ cách mạng thuộc địa. Tại Đại hội Tua năm 1920, Người bỏ phiếu gia nhập Quốc tế III, lý giải: “Tôi hiểu rõ một điều: Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa... Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn”.
Ngày 3-2-1930, tại Hội nghị thành lập Đảng, Chính cương và Sách lược vắn tắt do Người soạn thảo xác lập mục tiêu cách mạng: dân chúng được tự do tổ chức, nước Nam được hoàn toàn độc lập. Sau Cách mạng Tháng Tám, Người ký Sắc lệnh số 50 đặt tiêu ngữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” dưới Quốc hiệu. Người nhấn mạnh: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Độc lập vừa là mục tiêu trung gian, vừa là phương tiện để đạt tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Phân biệt mục tiêu cuối cùng và mục tiêu trung gian
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định rõ mục tiêu trung gian phù hợp từng giai đoạn. Năm 1945-1946, mục tiêu trung gian là giữ vững chính quyền, củng cố lực lượng. Quyết định ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 là minh chứng tiêu biểu: trong điều kiện tương quan lực lượng, Người chấp nhận Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia tự do, chưa phải độc lập hoàn toàn, nhưng tạo điều kiện tiến tới độc lập sau này.
Linh hoạt trong sử dụng phương tiện
Trên cơ sở mục tiêu rõ ràng, biện pháp được vận dụng linh hoạt. Tháng 7-1939, Người viết: “Không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao... Phải ra sức tổ chức Mặt trận dân tộc dân chủ rộng rãi”. Đầu tháng 5-1945, Người ký tên “Đảng Quốc dân Đông Dương” trong tài liệu gửi Mỹ, nhằm tranh thủ ủng hộ quốc tế mà không thay đổi mục tiêu chiến lược. Sau Cách mạng Tháng Tám, Người khẳng định: “Với Pháp - nhất quyết đòi quyền độc lập, chỉ nhượng bộ ít nhiều về kinh tế, văn hóa”.
Tư duy theo mục tiêu trên cơ sở coi trọng phương tiện
Trong suốt quá trình hoạt động, Người luôn gắn kiên định mục tiêu với chuẩn bị phương tiện. Tháng 6-1925, thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Tháng 2-1930, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1941, thành lập Việt Minh, biên soạn “Mười điều kỷ luật và chiến thuật cơ bản của du kích”. Cuối năm 1944, chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, xác định “chính trị trọng hơn quân sự”.
Vận dụng trong kỷ nguyên mới
Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới với mục tiêu đến năm 2030 là nước đang phát triển, công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao. Bối cảnh trong nước và quốc tế đặt ra nhiều thách thức. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu “tạo sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt”. Vận dụng tư duy Hồ Chí Minh đòi hỏi không xuất phát từ lý thuyết có sẵn, mà bắt đầu từ mục tiêu để hoạch định chính sách, thực hiện phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, lấy hiệu quả phục vụ mục tiêu làm tiêu chí đánh giá.
Trong lĩnh vực đối ngoại, cần:
- Nâng cao hiệu quả bảo vệ an ninh Tổ quốc, thực hiện vai trò tiên phong bảo vệ “từ sớm, từ xa”.
- Chuyển mạnh sang phục vụ phát triển, lấy kết quả hợp tác khoa học - công nghệ, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư chất lượng cao làm thước đo.
- Xác định đối tác ưu tiên dựa trên hiệu quả phục vụ mục tiêu phát triển, ưu tiên đối tác có tiềm lực công nghệ và thị trường.
- Triển khai đối ngoại chủ động, mạnh mẽ, nhất quán, tôn trọng luật pháp quốc tế.
- Phấn đấu trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, thu nhập cao, “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác.
Độc lập, phồn vinh cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân là mục tiêu suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phương pháp tư duy của Người cần được quán triệt và vận dụng sáng tạo trong hoạch định chính sách, chiến lược phát triển nói chung và đối ngoại nói riêng.



