Mối quan hệ mật thiết giữa Phạm Thận Duật và Tôn Thất Thuyết trong lịch sử Việt Nam
Quan hệ Phạm Thận Duật và Tôn Thất Thuyết trong sử Việt

Mối quan hệ mật thiết giữa Phạm Thận Duật và Tôn Thất Thuyết

Phạm Thận Duật và Tôn Thất Thuyết có mối quan hệ mật thiết trong lịch sử Việt Nam. Năm 1875, khi Tôn Thất Thuyết giữ chức Hộ lý Tổng đốc Ninh - Thái, phụ trách quân sự bốn tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Cao Bằng, thì Phạm Thận Duật đang làm Tuần phủ Bắc Ninh. Sau đó, khi Tôn Thất Thuyết thăng lên Thự Tổng đốc Ninh - Thái, Phạm Thận Duật đã đảm nhận vị trí Hộ lý Tổng đốc.

Liên hệ gia đình và sự kiện chính trị

Giữa năm 1882, Tôn Thất Thuyết được triệu về Kinh, Phạm Thận Duật cùng Lâm Hoành dâng sớ lên vua Tự Đức, xin nhường chân Cơ mật viện đại thần cho Tôn Thất Thuyết, nhưng đề nghị này không được chấp nhận. Giữa hai nhân vật chủ chiến này còn có mối liên hệ gia đình sâu sắc: con trưởng của Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Đàm đã hứa hôn với con gái Phạm Thận Duật là Phạm Thị Thư. Tuy nhiên, cuộc hôn nhân này đã không thành hiện thực vì Tôn Thất Đàm tự tử sau khi vua Hàm Nghi bị bắt vào năm 1888.

Phạm Thận Duật, khi giữ chức Thượng thư Bộ Hộ, đã kiêm nhiệm chức Tham tri Bộ Công để trực tiếp giám sát việc xây dựng Tân Sở và các nha sơn phòng. Việc vua Kiến Phúc lên ngôi cũng là sở nguyện của vua Tự Đức. Chính trong thời gian dưới triều Kiến Phúc và Hàm Nghi, triều đình Huế đã chuẩn bị cho phong trào Cần Vương nhằm chống Pháp lâu dài. Điều này khiến Pháp không ngừng ngăn trở và cuối cùng dẫn đến vụ kinh thành Huế thất thủ.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Kế hoạch xây dựng và kháng chiến

Ngay sau khi Hiệp Hòa bị phế và vua Kiến Phúc lên ngôi, triều đình Huế đã cho xây dựng thành Tân Sở và sơn phòng Dương Yên ở Quảng Nam, đồng thời tu sửa các sơn phòng và con đường thượng đạo. Sơn phòng của Quảng Trị có thể làm hậu lộ cho kinh đô... Triều đình đã chuẩn y việc đắp thành, đào hào, xây cất nha thự, kho súng, nhà lính cùng các tòa kỳ đài, pháo đài... và chọn nơi di chuyển trấn Lao Bảo. Họ cũng thiết lập nhà ở và nơi làm việc cho các quan viên văn võ, đặt ra kho thuốc, nhà lính, và xưởng voi.

Thành Tân Sở ở Quảng Trị được xem là hậu lộ của kinh đô hay khu kinh đô dự bị của các tỉnh. Khi phong trào Cần Vương Quảng Nam rút khỏi La Qua ở Điện Bàn, họ lên sơn phòng Dương Yên. Khi Dương Yên thất thủ, Trung Lộc được xây dựng và gọi là Tân Tỉnh. Đây là kế hoạch kháng chiến lâu dài mà triều đình Kiến Phúc cùng với nhóm chủ chiến đã vạch ra.

Nhược điểm và chiến lược đối phó

Chúng ta biết rằng ngoài kinh đô Huế, thành Hà Nội, thành Gia Định cùng các tỉnh thành trong cả nước đều được xây dựng trên bờ sông để tiện việc chuyển vận vật tư, lương thực bằng ghe thuyền. Tuy nhiên, đây là một nhược điểm không thể khắc phục khi phải chống lại quân xâm lược Pháp, mà lực lượng chủ yếu của họ là hải quân. Tàu đồng, súng lớn là ưu thế của quân xâm lược.

Muốn chống lâu dài thực dân Pháp, triều đình Kiến Phúc và kế tiếp là Hàm Nghi thấy cần phải chuyển triều đình và vua khỏi kinh thành đã bị Pháp khống chế ở ba mặt: Thuận An, Tòa Khâm sứ bên kia sông Hương và nhất là Trấn Bình Đài (Mang Cá). Cả ba vị trí này đều là những vị trí chiến lược. Hai vị trí mà triều đình có thể chuyển đến tạm thời khi rời bỏ kinh thành Huế là Tân Sở ở phía bắc và sơn phòng Dương Yên ở phía nam. Trong kế hoạch lâu dài, triều đình có thể đóng ở Bình Định, dựa lưng vào Tây Nguyên hoặc ở vùng núi Thanh Hóa.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Chuẩn bị vật chất và phản ứng của Pháp

Triều đình đã cho chuyển muối, lúa gạo, vàng bạc ra Tân Sở và Dương Yên. Chín mươi gánh vàng bạc đã được chuyển vào sơn phòng Dương Yên ở Quảng Nam. Các tỉnh thành như La Qua, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên... ở phía nam hay Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa... ở phía bắc sẽ rút về các sơn phòng. Con đường thượng đạo dọc Trường Sơn sẽ là con đường huyết mạch, liên lạc giữa các tỉnh, giữa các tỉnh và triều đình, thay cho con đường thiên lý dọc theo bờ biển mà quân Pháp rất dễ khống chế và cắt đứt.

Theo tường trình của các giám mục Camelbeck ở Quy Nhơn, Caspar ở Huế và Puginier ở Hà Nội, Pháp biết rất rõ kế hoạch của triều đình. Ba tháng trước khi ký Hòa ước Giáp Thân vào ngày 6 tháng 6 năm 1884, đô đốc Courbet đã gửi cho tướng Millot đề nghị chiếm ngay kinh thành Huế để ngăn chặn kế hoạch này.

(Trích từ sách Góp nhặt tìm hiểu lịch sử Việt của nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc do NXB Tổng hợp TP.HCM ấn hành)