Mỗi lần về miền Tây, dù ngồi xuồng len lỏi giữa những dòng kinh, hay lội bộ trên những con đường đất rợp bóng cây, trong tâm trí tôi luôn văng vẳng những câu ca trên, bởi với tôi, Nam bộ, hay rộng hơn là vùng đất phương Nam của nước Việt, là nơi in đậm dấu chân của những lưu dân từ phương xa, hội nhập với sắc dân bản địa để tạo nên một phương Nam hội tụ và dung hòa.
Quý 1/2026, Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam (An Giang) đón gần 1,8 triệu lượng khách đến vía Bà, tham quan. Ảnh: Trần Ngọc
Đất lành để nương náu, mưu sinh và hy vọng
Có những vùng đất được tạo lập bởi một tộc người. Cũng có những vùng đất được hình thành bởi một "dòng chảy dân cư" thuần nhất. Nam bộ thì khác. Vùng đất này được tạo dựng và định danh từ những lớp người khác nhau, thuộc các sắc tộc, xứ sở khác nhau, đến đây vào những thời điểm khác nhau, mang theo những ký ức khác nhau và học cách sống chung với nhau. Trải hàng thế kỷ, sự gặp gỡ ấy không phải là cuộc xóa bỏ bản sắc, mà là quá trình dung hòa và chuyển hóa thành một cấu trúc cộng sinh, chia sẻ cuộc sống mưu sinh, tạo thành một cấu trúc xã hội chung với một nền văn hóa hài hòa và đa dạng.
Giai đoạn thế kỷ 16 - 18, những dòng lưu dân từ Trung bộ nước Việt bắt đầu hành trình xuôi về phương Nam, nơi họ gặp gỡ cư dân Khmer bản địa và sau đó là những làn sóng di dân của người Minh hương đến từ Hoa lục, là lúc vùng đất Nam bộ bắt đầu định hình. Nói một cách giản dị, Nam bộ là vùng đất người ta tìm đến, không phải để nương náu tạm thời, mà để ở lại, tạo dựng cơ nghiệp và nuôi niềm hy vọng.
Hàng thế kỷ trước, vùng đất nằm cuối dòng Mê Kông này liên tục đón nhận những đoàn người đi tìm đất sống, đi buôn bán, đi tránh chiến tranh, đi vì khát vọng đổi đời. Họ mang theo ngôn ngữ, tín ngưỡng, món ăn, tập quán của mình. Khi đến đây, thay vì loại trừ nhau, họ dần dần học cách sống với nhau.
Sử gia Li Tana trong biên khảo Nguyễn Cochinchina. Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries (Ithaca, New York: Cornell University, 1998) đã nhận định (Việt dịch): "Sự mở rộng về phía nam không đơn thuần là chinh phục quân sự mà là quá trình tương tác và thích nghi phức tạp với cư dân bản địa". Nhận xét này là chìa khóa để "hiểu" về Nam bộ của Việt Nam: là vùng đất của thương thảo, tiếp biến và cộng cư. Đó cũng là lý do vì sao Nam bộ không nên được nhìn nhận như một "đơn vị hành chính - địa lý" truyền thống, mà là một "không gian văn hóa" được hình thành bởi nhiều lớp cư dân: Khmer bản địa, Việt lưu dân, Hoa thương nhân, Chăm Hồi giáo, và cả những cộng đồng đến muộn hơn từ khắp mọi miền. Chính sự giao thoa ấy đã tạo nên một vùng đất đa dạng nhưng không rời rạc, một vùng văn hóa vừa riêng biệt, vừa là một bộ phận hợp thành bản sắc văn hóa Việt Nam.
Đình Minh Hương Gia Thạnh của người Hoa Chợ Lớn (TP.HCM). Ảnh: Lam Phong
Những lớp trầm tích
Trước khi người Việt đặt chân lên vùng châu thổ địa đầu, nơi ấy đã là một thế giới khác. Đây là không gian sinh tồn lâu đời của người Khmer, với các thực thể kế tiếp từ Phù Nam đến Chân Lạp. Những di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hóa Óc Eo còn lại ở Nam bộ cho thấy vùng đất này từng là một trung tâm giao thương sầm uất, nối Ấn Độ Dương với Biển Đông từ những thế kỷ đầu Công nguyên.
Nơi đó, người Khmer đã sinh tụ từ lâu đời. Họ dựng nên những ngôi chùa Phật giáo Nam tông mái cong rực rỡ giữa đồng lúa; tổ chức lễ Chol Chnam Thmay mỗi độ năm mới; thả đèn nước trong lễ Ok Om Bok khi trăng tròn tháng 10. Những phum, sóc của họ quây quần như những tế bào văn hóa bền chặt giữa đồng bằng mênh mông. Tất cả tạo nên một hệ sinh thái văn hóa bền vững. Đó là một không gian mở của sông nước, của rừng tràm, của những cộng đồng bản địa sống theo nhịp điệu mùa nước nổi; là lớp trầm tích sâu nhất của Nam bộ sau này.
Bình gốm Biên Hòa với dáng phương Tây và chi tiết, kỹ thuật Á Đông, một minh chứng cho sự dung hòa các dòng chảy văn hóa tại Nam bộ. Ảnh: Lam Phong
Từ cuối thế kỷ 16, nhất là dưới thời các chúa Nguyễn trị vì Đàng Trong (thế kỷ 16 - 18), những đoàn lưu dân từ miền Trung nước Việt bắt đầu hành trình Nam tiến. Ban đầu, họ định cư ở vùng Đồng Nai - Gia Định; dần dần lan xuống các xứ Mỹ Tho, Vĩnh Long, Hà Tiên…
Nhà bác học Lê Quý Đôn trong tác phẩm Phủ biên tạp lục (biên soạn trong những năm 1775 - 1777), đã miêu tả phương Nam là nơi "đất đai rộng rãi, sản vật phong phú, kênh rạch chằng chịt, dân cư còn thưa". Ông ghi nhận sự trù phú của lúa gạo, cá tôm, và cả những hoạt động thương mại xuyên vùng, xuyên quốc gia đang hình thành. Những ghi chép của Lê Quý Đôn cho thấy vào thế kỷ 18, phương Nam không phải "vùng đất hoang vu", mà là một không gian đang chuyển động và trưởng thành.
Sách Đại Nam thực lục tiền biên do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn có nhiều đoạn ghi chép việc các chúa Nguyễn cho dân "chiêu mộ vào khai khẩn đất hoang phương Nam" và chính quyền cho lập dinh, đặt trấn, tổ chức hệ thống hành chính để quản lý vùng đất mới.
Những lưu dân miền Trung vào Nam mang theo mô hình làng xã truyền thống từ quê hương: đình làng, hương ước, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, thờ tổ tiên. Khi đặt chân đến vùng đất sông nước rộng mở, họ cũng đã điều chỉnh cả không gian sống lẫn cấu trúc xã hội.
Khác với miền Bắc nước Việt, nơi làng xã có cấu trúc khép kín và ruộng đất được phân chia theo thứ bậc xã hội, dòng họ và nhân khẩu, Nam bộ là đất khẩn hoang. Ai có sức lao động thì có đất đai. Mối quan hệ huyết tộc không còn là yếu tố duy nhất quyết định địa vị xã hội. Sự linh hoạt trong phân chia đất đai và tổ chức cộng đồng khiến cấu trúc xã hội trở nên "mở" hơn. Chính tính chất "mở" này đã khiến cấu trúc xã hội của Nam bộ khác biệt với Bắc bộ và Trung bộ: không có làng xã khép kín với lũy tre bao quanh, nhà cửa dựng theo kênh rạch, người đến sau ở cạnh người đến trước. Và, sống chung là điều tất yếu.
Thế kỷ 17 - 18 cũng chứng kiến làn sóng di dân từ Hoa lục, đặc biệt là nhóm Minh hương sau biến động Mãn tộc tiến chiếm Trung nguyên, lật đổ nhà Minh, lập nên Thanh triều. Những người trung thành với nhà Minh rời bỏ Hoa lục tìm về các xứ sở ở Đông Nam Á. Được chúa Nguyễn cho phép định cư ở miền Trung, miền Nam nước Việt, họ nhanh chóng tham gia hoạt động khai khẩn và buôn bán nơi vùng đất mới.
Cộng đồng người Chăm theo đạo Hồi ở TP.HCM. Ảnh: Uyển Nhi
Người Hoa mang theo kinh nghiệm thương mại, kỹ thuật thủ công và mạng lưới mậu dịch rộng khắp. Học giả Nguyễn Duy Chính nhận xét: "Từ một nhãn quan kinh tế, chúng ta thấy những người di cư này là những nhóm thiểu số đầy khả năng và linh động. Họ được các nhà cầm quyền địa phương sử dụng một cách khôn ngoan để biết rằng họ có lợi trong việc phát triển mậu dịch đường biển, hải hành nhưng cũng còn cả thương mại nội địa, quản lý quan thuế, kiến tạo tàu bè, nông nghiệp và cả việc đô thị hóa". ("Lời tựa" bản dịch cuốn Ming Loyalists in Southeast Asia. As Perceived through Various Asian and European Records của Claudine Salmon, Harrassowitz Verlag - Wiesbaden, 2014).
Người Việt mang đến phương Nam sức lao động khai khẩn ruộng đất còn người Hoa góp phần tạo nên diện mạo đô thị và mạng lưới thương mại. Những thương cảng ra đời ở Cù Lao Phố, Gia Định, Hà Tiên… và phát triển mạnh. Đến thế kỷ 19, Chợ Lớn trở thành trung tâm thương mại lớn nhất Nam bộ.
Người Hoa mang theo mô hình "bang hội" vào vùng đất này, cùng tín ngưỡng thờ phụng Thiên Hậu, Quan Công, Phúc Đức chính thần... Họ xây miếu, lập hội quán, mở lò gốm, nhà xưởng, hãng buôn, tiệm thuốc Bắc… Điều quan trọng là họ không tồn tại biệt lập. Hôn nhân Việt - Hoa diễn ra phổ biến trong hàng thế kỷ qua. Nhiều gia đình Minh hương dần dần Việt hóa qua các thế hệ. Ngược lại, người Việt tiếp nhận kỹ thuật thương mại, ẩm thực và phong cách tổ chức kinh doanh của người Hoa.
Nam bộ cũng là nơi cư ngụ của cộng đồng người Chăm Hồi giáo, một lát cắt đặc biệt của vùng đất này. Philip Taylor trong biên khảo Cham Muslims of the Mekong Delta, coi người Chăm Nam bộ là "transnational community" (cộng đồng xuyên quốc gia) có mối gắn kết với những cộng đồng Hồi giáo ở Đông Nam Á. Nhận định này có cơ sở, bởi các mối quan hệ thân tộc, hôn nhân và hành hương của người Chăm Hồi giáo ở Nam bộ không dừng lại ở biên giới Việt Nam. Cộng đồng này vừa giữ nghi lễ nghiêm ngặt của Hồi giáo, vừa thích ứng với môi trường văn hóa Việt, Khmer xung quanh. Những làng Chăm ở An Giang với thánh đường Hồi giáo, phụ nữ đội khăn hijab, nghề dệt truyền thống… là sự bổ sung sắc màu cho bức tranh văn hóa đa dạng của Nam bộ.
Dung hợp tín ngưỡng, dung hòa văn hóa
Nam bộ là vùng đất có mật độ tín ngưỡng đa dạng bậc nhất Việt Nam: Phật giáo Nam tông Khmer tồn tại song song với Phật giáo Bắc tông của người Việt. Miếu Quan Công, miếu Thiên Hậu của người Hoa nằm cạnh đình làng Việt. Trong các thế kỷ 19 - 20, những tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Hòa Hảo ra đời trong môi trường dung hợp ấy. Tính dung hợp này không phải sự pha trộn ngẫu nhiên, mà là kết quả của quá trình chung sống dài lâu. Khi cộng đồng phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và sinh tồn, họ học cách chấp nhận sự hiện diện thiêng liêng của nhau. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ ở núi Sam (An Giang) là ví dụ điển hình. Hình tượng Bà có thể bắt nguồn từ tín ngưỡng bản địa Khmer, đã được Việt hóa và tiếp nhận thêm yếu tố Hoa. Vì thế mà trong thực tế hành hương, ranh giới tộc người mờ đi, khi cả người Khmer, người Việt, người Hoa đều có thể cùng tham dự lễ hội với nhau.
Ở Nam bộ, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà còn là bằng chứng sống động của tiếp xúc văn hóa. Tiếng Việt phương Nam mang nhiều dấu vết tiếp xúc. Học giả Vương Hồng Sển, khi biên soạn bộ Tự vị tiếng nói miền Nam (NXB Trẻ, TP.HCM, 1998), đã liệt kê hàng loạt từ ngữ đặc thù của miền Nam, trong đó có không ít từ vay mượn từ tiếng Khmer và tiếng Hoa. Những tự vị như cà ràng, lục bình, xí ngầu, lạp xưởng… đã đi vào đời sống của người Nam bộ một cách tự nhiên, đến mức người ta không còn ý thức được nguồn gốc của những từ này.
Giọng nói của người Nam bộ thường giản lược phụ âm cuối, nhịp điệu chậm rãi và mềm mại. Điều này phản ánh môi trường giao tiếp đa tộc người: khi nhiều cộng đồng dùng tiếng Việt như ngôn ngữ chung, cấu trúc phát âm có xu hướng đơn giản hóa để dễ hiểu nhau hơn.
Ẩm thực cũng vậy: Bún mắm gợi nhớ đến truyền thống Khmer. Hủ tiếu mang bóng dáng Hoa. Canh chua cá linh là sáng tạo của cư dân Việt vùng sông nước. Tất cả hòa quyện thành "thực đơn chung" của người phương Nam.
Tính cách Nam bộ: Sản phẩm của giao thoa
Trải qua nhiều thế kỷ chung sống, cư dân Nam bộ hình thành một đặc trưng tâm lý - xã hội riêng. Đó là phóng khoáng, thực tế, và khả năng chấp nhận khác biệt. Bởi lẽ: đất rộng, người thưa, cơ hội khai khẩn mở ra cho bất cứ ai có sức lao động, làm cho người ta phóng khoáng hơn; nơi vùng đất mới, quan trọng nhất là phải sống sót và "mần ăn", nên người ta coi trọng thực tế, ít câu nệ lễ giáo; và sau cùng, do sống trong môi trường đa tộc người, nên cư dân phải học cách chung sống, quan hệ cộng đồng dựa vào sự tin cậy, hợp tác và dung hòa.
Nhà văn Sơn Nam từng viết người Nam bộ "trọng nghĩa khinh tài, sống hào sảng, sẵn sàng giúp đỡ người lạ". Tính cách ấy không tự nhiên mà có. Nó là kết quả của môi trường đa tộc người, nơi muốn tồn tại phải học cách bao dung.
Có lúc, Nam bộ từng bị nhìn như "vùng đất xa trung tâm". Nhưng nhìn sâu vào lịch sử, có thể thấy nơi đây không phải "ngoại vi", mà là minh chứng rõ ràng cho khả năng thích ứng của văn hóa Việt Nam. Nam bộ không đơn thuần là phần kéo dài của Bắc bộ hay Trung bộ. Đó là sản phẩm của nhiều thế kỷ gặp gỡ và thương thảo văn hóa. Và chính trong quá trình ấy, sự đa dạng không làm phân mảnh không gian này. Ngược lại, nó tạo nên một cấu trúc thống nhất trong khác biệt. Người Khmer vẫn giữ chùa, người Hoa vẫn giữ hội quán, người Chăm vẫn giữ thánh đường... Nhưng họ cũng nói tiếng Việt, tham gia vào nền kinh tế và chính trị chung của quốc gia. Từ người Khmer bản địa đến người Việt lưu dân, từ người Hoa thương nhân đến người Chăm Hồi giáo - mỗi sắc dân để lại dấu ấn riêng. Theo thời gian, những dấu ấn ấy không xóa nhòa nhau, mà đan xen và trở thành một tổng thể.
Phương Nam, vì thế là vùng đất hội tụ và dung hòa văn hóa - một hình ảnh thu nhỏ của Việt Nam trong hành trình lịch sử: đa dạng, linh hoạt và thống nhất.



