Bà Thị Dôn (xã Tân Hưng, TP Đồng Nai) kể rằng vào những năm đầu đất nước thống nhất, gia đình bà vẫn có thói quen tự trồng bông kéo sợi và nhuộm màu tự nhiên để dệt vải. Nhưng đến đầu thập niên 80 thế kỷ trước, cái nghèo khiến những công đoạn dệt áo cầu kỳ trở thành xa xỉ. Những ruộng bông dần biến mất, nghề dệt thổ cẩm chững lại. Khung dệt chỉ thi thoảng được lấy ra làm những sản phẩm lặt vặt. Chính bà Dôn cũng dần xa rời khung cửi.
Khởi nguồn từ lời mẹ dặn
Mãi tới khoảng năm 2008, bà mới thấy mẹ mang khung cửi ra để dệt một tấm chăn cho cháu. Lúc ấy, mẹ bà gọi bà vào phụ giúp và nói: “Bao năm khung cửi bỏ không, giờ mẹ muốn văn hóa của người S’tiêng tiếp tục được truyền đời, kể cả khi mẹ mất rồi thì những người con gái S’tiêng vẫn cần biết dệt vải.” Lời ấy, bà Dôn nhớ mãi.
Bà bắt đầu với những chiếc túi thổ cẩm nhỏ, mang tới các nhà thờ ngày làm lễ. Chiếc túi có hoa văn hạt gạo và mái tóc người phụ nữ S’tiêng nhanh chóng thu hút sự chú ý. Bà có các đơn hàng lẻ tẻ và nhận ra thổ cẩm không hề chết, chỉ cần có sản phẩm, nó có thể bán, có thể sống.
Tổ dệt ấp Lồ Ô ra đời
Năm 2010, tổ dệt ấp Lồ Ô (xã Tân Hưng) ra đời với 35 chị em người S’tiêng, trong đó có hơn 10 người cùng độ tuổi với bà Thị Dôn. Những đơn hàng đến thường xuyên hơn. Bà mang sản phẩm thổ cẩm đi khắp nơi: từ hội chợ ở Campuchia, Thái Lan, đến cả đơn hàng sang Đan Mạch. Thương hiệu của tổ dệt chính là những chiếc khăn màu sắc. “Đa phần người ta thích khăn, còn quần áo truyền thống bán được ít hơn. Mỗi tháng chúng tôi bán được khoảng 40-50 chiếc khăn, mỗi chiếc 200.000-300.000 đồng”, bà Thị Dôn chia sẻ.
Nhận thấy nguy cơ mai một, Sở Công thương tỉnh Bình Phước cũ đã tạo điều kiện cho bà Dôn đi học lấy chứng chỉ sư phạm nghề để giảng dạy. Bà trực tiếp đứng lớp dạy 3 khóa học dệt thổ cẩm (một lớp ở huyện Bù Đăng cũ và hai lớp tại làng với quy mô từ 20 đến 25 học viên). Điều bà vui nhất là các lớp mới có nhiều học viên trẻ.
Những tổ dệt khác và thách thức
Trong cộng đồng S’tiêng, những tổ dệt như vậy không hiếm. Ở xã Tân Hưng hiện có 3 tổ dệt đang hoạt động. Tổ dệt thổ cẩm - rượu cần xã Bom Bo do Điểu Thị Xia dẫn dắt cũng đều đặn làm và bán sản phẩm. Tuy nhiên, những kỹ thuật dệt phức tạp hầu như chỉ những người lớn tuổi còn làm. Bà Dôn cho biết kỹ thuật thêu hoa văn dích dắc hay các họa tiết phức tạp nếu được dạy thì chỉ cần vài buổi là có thể biết, nhưng nghề này cần sự kiên trì. Lớp học có nhiều bạn trẻ có năng khiếu, nhưng học xong nhiều người bỏ đi làm công ty, khiến bà rất tiếc.
Ở tổ dệt ấp Lồ Ô, bà Thị Tiếc bảo nếu xét tiền công thì đi mót mủ cao su được nhiều tiền hơn, nhưng bà thích tổ dệt và coi đó như công việc lúc rảnh rỗi. Hai-ba ngày bà xong một chiếc khăn, trừ tiền nguyên liệu 50 nghìn, bà nhận về khoảng 150 nghìn đồng. Con gái bà cũng biết dệt nhưng đi làm công trường cao su từ 7 giờ sáng tới 11 giờ tối, về nhà mệt nhoài. Những hoa văn phức tạp mà bà Tiếc thành thạo, giờ không biết dạy ai.
Nguyên liệu ngày càng khan hiếm
Sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên và chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã ảnh hưởng mạnh tới nguyên liệu dùng trong văn hóa truyền thống của người S’tiêng. Rừng bé lại khiến các loại vỏ, lá, rễ cây dùng để nhuộm sợi khó tìm hơn. Vùng trồng bông biến mất, việc trồng bông, tách hạt, se sợi cũng biến mất. Người ta chỉ có thể đặt mua hàng làm sẵn. Điểu Thị Xia cho biết quy trình xử lý bông và nhuộm màu cốt lõi ngày xưa nay hầu như không còn ai làm.
Với nghề đan gùi, nguồn cung cây lồ ô và dây mây cũng suy giảm. Một số gia đình S’tiêng tự trồng thêm nhưng quy mô nhỏ. Ông Điểu Lúi (xã Tân Hưng) nói nhà ông trồng cây mây nhưng chỉ đủ cho vài cái gùi chơi, còn phải đi mua. Ông Điểu Lon A (xã Bom Bo) phải đặt mua nguyên liệu từ Biên Hòa, giá khoảng 30.000 đồng một cây dây mây. Ở khu vực quanh nhà ông chỉ có ba người còn đan gùi. “Bọn trẻ sợ đứt tay chân không quen làm. Bây giờ còn các cháu, tôi bảo bố nó bày cho đan gùi, nhưng chính bố nó còn chả biết đan. Chỉ còn ông nội là tôi làm thôi”, ông buồn bã. “Giờ không ai làm cái gùi này nữa. Chắc tới lúc mình chết nghề bỏ luôn”.
Những tập tục mai một
Kỹ thuật giã gạo chày tay – từng làm nên huyền thoại ở sóc Bom Bo – cũng dần biến mất. Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Phước cũ, chỉ duy nhất đồng bào ở Bù Đăng (cũ) còn giữ tập tục này nhưng quy mô nhỏ và không thường xuyên. Lúa nương không còn, đâu còn cần giã gạo chày tay. Nguyên liệu làm bộ dụng cụ giã gạo (cối gỗ, chày gỗ, gùi, xá) cũng khó kiếm. Ông Điểu Nôi cảm thấy gạo nương giã nứt ăn ngon hơn gạo xát máy, nhưng nhà ông thi thoảng mới giã.
Việc nấu rượu cần cũng gặp khó. Bà Thị Chanh (ấp 5, xã Tân Hưng) kể tìm cây rừng để lên men rượu phải mất 1-2 ngày. Xưa đàn ông lên rừng tìm cây về cho đàn bà ủ rượu, giờ huy động cả nhà cũng khó tìm.
Tuy nhiên, Điểu Thị Xia lạc quan: những cây đó có thể trồng, có thể dựng lại vùng nguyên liệu. Trong vườn nhà Xia vẫn có vài cây bông để giới thiệu cho người mặn mà với truyền thống. “Nếu có đầu ra, thì gây dựng lại vùng trồng bông không khó”, nàng Điểu Nhíp khẳng định. Cả cây nấu rượu, cây mây, Xia đều thử trồng và đều sống dễ. Nhưng làm sao để mở rộng, để nhiều người biết đến sản phẩm S’tiêng hơn thì chính Xia cũng đang băn khoăn.
(Còn nữa)



