Trong xưởng của nghệ nhân Lê Bá Linh (Tư Bốn) ở làng sơn mài Tương Bình Hiệp (phường Chánh Hiệp, TP Thủ Dầu Một, Bình Dương cũ, nay thuộc TP Hồ Chí Minh) vẫn còn nhiều hiện vật đã tồn tại hàng chục năm. Những chiếc bình trơn hình dáng độc đáo, màu sắc đa dạng, đặc trưng của sản phẩm xuất khẩu Trung Đông. Bên cạnh đó là những sản phẩm từng có mặt ở nhiều khách sạn hàng đầu thế giới. Đã có thời, sơn mài Bình Dương nổi danh xa gần nhờ tính ứng dụng và sự nhanh nhạy với thị trường trong nước và quốc tế.
Đô thị hóa đã khiến một ngôi làng truyền thống gần như biến mất, và sự sống của một nghề cũng đang dần mai một. Làng sơn mài không còn là làng. Giai đoạn hoàng kim của sơn mài Tương Bình Hiệp là khoảng 1945-1975 và thập niên 1980-1990. Trong những năm biến động chính trị, sơn mài Bình Dương rơi vào khoảng lặng. Sản phẩm Tương Bình Hiệp sôi động trở lại khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, với các công ty xuất nhập khẩu nhà nước đặt hàng liên tục. Hợp tác xã sơn mài Tương Bình Hiệp được thành lập với hơn 160 xã viên, tạo sinh kế cho 744 hộ gia đình và thu hút hơn 1.500 lao động từ các địa phương khác đến học nghề.
Tại Hội chợ Triển lãm Kinh tế Kỹ thuật Giảng Võ (Hà Nội) các năm 1985 và 1986, sơn mài Thủ Dầu Một giành được 9 huy chương, trong đó 7 huy chương vàng thuộc về sản phẩm của Tương Bình Hiệp. Nghệ nhân Lê Bá Linh cho biết, có lúc xưởng của ông có tới 200 nghệ nhân cùng làm. Sơn mài đã nuôi sống cả một làng trong những năm tháng đất nước chuyển mình.
Vào đầu thập niên 1990, cùng với sự tan rã của Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, các đơn hàng xuất khẩu bị đứt gãy. Hàng loạt công ty xuất khẩu sơn mài lần lượt giải thể. Không còn đơn hàng lớn, Tương Bình Hiệp thiếu đầu ra và rơi vào khủng hoảng. Quy mô nhà xưởng giảm mạnh, sản phẩm ít dần.
Tương Bình Hiệp là nơi duy nhất tại Việt Nam bảo tồn và phát triển đồng thời cả ba loại hình sơn mài truyền thống: sơn mài trang trí, sơn mài ứng dụng và tranh sơn mài hội họa trong một không gian thống nhất. Thế nhưng không gian ấy đang ngày một bó hẹp. Năm 2014, phường Tương Bình Hiệp chỉ còn 53 cơ sở hoạt động với khoảng 500 lao động. Đến nay, chỉ còn vài hộ gia đình duy trì sản xuất. Tấm biển Làng sơn mài Tương Bình Hiệp vẫn còn đó, nhưng mang nhiều hoài niệm hơn là một làng nghề đúng nghĩa.
Những xưởng còn duy trì chủ yếu phục vụ đơn hàng nội địa với mẫu mã đơn giản hơn, và đơn hàng mỗi ngày một kém. Mọi năm, các xưởng thường có đơn hàng làm hộp bánh trung thu, nhưng năm nay ông Tư Bốn cho biết ít hẳn, đến giờ xưởng chưa có đơn hàng nào: “Khủng hoảng kinh tế, người ta cũng cắt giảm nhiều chi phí”.
Ông Tư Bốn tâm sự, hiện nay sơn mài Trung Quốc chiếm ưu thế nhờ giá rẻ, mẫu mã đa dạng. “Họ có máy in 3D, công nghệ tốt, có thể sản xuất hàng loạt, mình làm thủ công, không đọ được”, ông nói. Nhưng ông không thể đầu tư máy móc nhiều hơn, vì với số lượng đơn hiện tại, đầu tư khoản tiền lớn để nhận đơn hàng nhỏ là quá liều lĩnh. Xưởng của ông hoạt động cầm chừng, duy trì công việc và thu nhập cho khoảng vài chục người, đa phần là người lớn tuổi.
Để chế tác sơn mài Bình Dương cần quy trình 25 công đoạn. Nhiều kỹ thuật ngày càng ít người làm, như kỹ thuật cẩn trứng, kỹ thuật khắc trũng, dù ghi chép hướng dẫn đầy đủ nhưng không còn mấy người trẻ học. “Sơn mài Malaysia, Philippines họ cũng làm nhưng trước kia không đa dạng như Việt Nam. Nhưng giờ ở đây chỉ còn vài người làm thôi”, ông Tư Bốn thở dài.
Tương tự là xưởng sơn mài Định Hòa của nghệ nhân Trương Quang Tịnh. Ông Tịnh nói giữ nghề này vì yêu nghề, không muốn nghề truyền thống mai một, chứ không tính lợi nhuận. “Ở đây thợ đều là thế hệ già rồi. Chú mong có người trẻ học lắm, chú bỏ tiền dạy miễn phí, mà chẳng ai theo”, ông nói. Hầu hết thợ trong xưởng ông Tịnh đều ở độ tuổi U60, có thâm niên 30-40 năm, thậm chí có người làm nghề hơn 49 năm.
Ở Bình Dương, người ta nói tới khu công nghiệp, đời sống công nhân, dự án nhà máy lớn, chứ mấy người trẻ còn nghĩ tới sơn mài. Mức thu nhập bình quân của thợ sơn mài, với vô số độc hại, lại phải học nghề lâu, chỉ dao động quanh 8 triệu đồng/tháng.
Bên cạnh xưởng sơn mài, nghệ nhân Trương Quang Tịnh dành không gian làm bảo tàng sơn mài tư nhân. Ông hào hứng kể về những ngày đi sưu tầm và giữ được bản phác họa, tranh mẫu gốc quý giá của các họa sĩ sơn mài nổi tiếng. “Các công ty sơn mài nổi tiếng tôi đều giữ hết”, ông bảo. Từ bản phác thảo của họa sĩ Duy Liêm, Thái Văn Ngôn của Xưởng sơn mài Thành Lễ thập niên 1940, đến sản phẩm xuất khẩu của Công ty sơn mài Lam Sơn vang bóng một thời. Ông gom chỉ vì muốn lưu giữ, chưa nghĩ sẽ làm gì với những tác phẩm cũ kỹ. Bây giờ, ông mong nhiều người biết tới bảo tàng để giới thiệu nghề vàng son tới hậu thế. Mỗi thứ tư hằng tuần, bảo tàng mở cửa miễn phí cho khách tham quan.
Năm 2016, tỉnh Bình Dương phê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát triển làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp kết hợp với du lịch”. Theo đề án, sẽ có khu làng nghề tập trung rộng lớn với cổng chào, nhà thờ Tổ, khu trình diễn kỹ thuật và nơi trưng bày sản phẩm nhằm tạo không gian giới thiệu sơn mài và thu hút khách du lịch. Ngày ra mắt, các nghệ nhân được mời đến dự, ai cũng háo hức chờ đợi. Ông Tư Bốn khấp khởi: “Có 5 ha đó thì vui quá, sơn mài sẽ sống”. Tuy nhiên, 10 năm qua, tất cả vẫn là bãi đất hoang. Đề án vừa được bàn giao lại cho các bên liên quan khi sáp nhập tỉnh. “Nếu giờ có làm thì chắc phải điều chỉnh. Khi xưa làm đề án để kêu gọi doanh nghiệp đầu tư, giờ nên điều chỉnh theo hướng phát triển du lịch văn hóa”, ông Tư Bốn trầm ngâm.
Những người giữ hồn sơn mài Bình Dương hầu hết đều chấp nhận làng sẽ không bao giờ trở lại như thuở hoàng kim. Đó sẽ là một nét dĩ vãng bên đô thị mới. Nhưng mong muốn của họ là giữa thành phố hoa lệ vẫn cần một không gian làng được giữ lại để người ta biết về văn hóa truyền thống. “5 ha là quá đủ để lưu lại một ngôi làng rồi”, ông Tư Bốn kỳ vọng, “Cần có không gian làng giữa đô thị này, để người ta biết về văn hóa truyền thống”. (Còn nữa)



