Khám phá kiến trúc độc đáo gần 200 năm tuổi tại chùa Ông - Hội quán Nghĩa An
Kiến trúc độc đáo gần 200 năm tuổi tại chùa Ông

Hội quán Nghĩa An: Kiến trúc lộng lẫy gần 200 năm tuổi của người Hoa tại Sài Gòn

Hội quán Nghĩa An, thường được biết đến với tên gọi dân dã là chùa Ông hay Miếu Quan Đế, là một công trình tâm linh và văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Hoa gốc Triều Châu tại Việt Nam. Được thành lập bởi những người Triều Châu di cư sang nước ta, hội quán này mang đậm dấu ấn kiến trúc và tín ngưỡng truyền thống.

Lịch sử hình thành và những lần trùng tu

Cho đến nay, thời điểm chính xác xây dựng hội quán vẫn chưa được xác định rõ ràng, nhưng nhiều tài liệu lịch sử cho thấy nó có thể đã tồn tại từ đầu thế kỷ 19. Trong tác phẩm mô tả về chợ Sài Gòn xưa vào khoảng năm 1818, học giả Trịnh Hoài Đức đã nhắc đến sự hiện diện của hội quán Triều Châu này. Ông viết: "Đường lớn đầu phía Bắc có miếu Quan Thánh và 3 hội quán Phước Châu, Quảng Đông, Triều Châu chia đứng hai bên tả hữu. Hễ gặp tiết đẹp đêm trăng, các ngày tam nguyên sóc vọng thì treo đèn, đặt án, đua tranh kỳ xảo".

Với tuổi đời gần 200 năm, hội quán đã trải qua nhiều lần trùng tu và sửa chữa quan trọng. Các bộ bia đá được lưu giữ tại đây ghi nhận những đợt tu bổ vào các năm 1866, 1902, 1969, 1994 và đặc biệt là lần đại trùng tu mới nhất vào năm 2014, giúp bảo tồn nguyên vẹn nét kiến trúc cổ kính.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Tổng thể kiến trúc đồ sộ và nhiều màu sắc

Mặt bằng của Hội quán Nghĩa An được thiết kế theo hình chữ "Quốc", một kiểu bố cục phổ biến trong các đền miếu của người Hoa. Tổng thể kiến trúc bao gồm: bình phong, hồ nước, sân, tiền điện, thiên tĩnh, trung điện, nhà hương và chính điện, cùng với các dãy nhà đông lang, tây lang và hai khối nhà dành cho sinh hoạt của người Triều Châu và người Hẹ.

Sân miếu khá rộng rãi, chiếm hơn một nửa diện tích khuôn viên, với hai bên đặt tượng kỳ lân đá uy nghi. Từ cổng lớn bước vào, du khách sẽ bắt gặp cặp thạch cổ (trống đá) hai bên trục cửa chính – một nét kiến trúc đặc trưng của chùa người Hoa. Trên ngạch cửa và vách đá mặt tiền được chạm khắc một bài cổ phong và sáu bức chạm hình sáu cành trúc khác nhau với những đường nét bay bướm, tinh tế.

Ngoại thất lộng lẫy với những chi tiết trang trí tinh xảo

Phần ngoại thất của hội quán được thiết kế với tầng mái nhiều lớp, các tượng gốm, phù điêu trên mái ngói, cùng những bông hoa chạm ngược ở đầu bẩy hiên. Hình tượng long mã, dây hoa được thể hiện sinh động trên các kèo, cột, với màu sơn đỏ thắm nổi bật dưới mái hiên.

Mô típ mái theo hình núi uy nghi, tượng trưng cho núi thần giữa biển, tạo cảm giác "lầu cao chạm mây". Mặt dựng của bờ nóc và bờ giải được trang trí bằng một dải phù điêu ốp mảnh gốm rực rỡ, mô tả các hình ảnh chim - hoa, cừu - tùng, lân, cá hóa rồng, tứ mã... Các góc mái gắn tượng Ông Nhật, Bà Nguyệt và tượng Thiên Bình, thêm phần linh thiêng.

Nội thất cầu kỳ với những khám thờ và tượng thờ đặc sắc

Bên trong hội quán, không gian được trang trí hoành tráng với những bao lam khám thờ chạm khắc tinh xảo cả hai mặt. Các điển tích từ truyện Tam Quốc đến hình ảnh sinh hoạt đời thường như gánh nước, đốn củi đều được thể hiện sống động, xen lẫn với hình tượng long, lân, quy, phụng cùng tôm, cua, cá, mực.

Một nét độc đáo là các con vật được thờ trong miếu đều theo hình tượng mẹ và con: cạnh ngựa Xích Thố có ngựa con, bên chân lân mẹ có lân con, cạnh hổ mẹ có hổ con, và rồng con quấn quanh rồng mẹ.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Chính giữa tiền điện bày một hương án, trên đặt chiếc lư hương bằng đồng được làm vào năm Đạo Quang thứ 5 (1825). Chuông cao 39 cm, đường kính 46 cm, hai bên đúc hai đầu lân với đường nét tinh xảo, phía trước có hàng chữ "Quan Thánh Đế Quân". Hai bên tiền điện bài trí hai gian thờ hướng mặt vào chính điện: phía đông thờ Phúc Đức Chính Thần, phía tây thờ tượng ngựa Xích Thố cao 2,5 m với dáng ngẩng cao đầu độc đáo, được đánh giá là đẹp nhất trong số các tượng ngựa Xích Thố. Bên cạnh còn có tượng Mã Đầu Tướng Quân cao 2 m, tay cầm dây cương ngựa.

Trung điện và chính điện: Trung tâm thờ phụng Quan Thánh Đế Quân

Trung điện nằm giữa hai sân thiên tĩnh, nơi đặt bàn thờ nhỏ thờ Quan Đế và phía trước là bàn thờ Văn Xương Tinh Quân – vị thần đứng đầu giáo dục khảo thí. Trên vách tường hai bên điện thờ này đắp nổi phù điêu Thanh Long và Bạch Hổ.

Chính điện là nơi bài trí trang nghiêm với ba gian thờ. Gian giữa thờ Quan Thánh Đế Quân – vị thần chính được tôn thờ tại hội quán. Khám thờ Quan Đế làm bằng gỗ cao hơn 3 m, chạm viền nhiều lớp hình lưỡng long tranh châu, Bát Tiên giao chiến thủy quái, tùng hạc, mẫu đơn - trĩ...

Quan Thánh Đế Quân, tên thật là Quan Vũ (tự Vân Trường), sinh năm 160 và mất năm 219, là một nhân vật lịch sử thời Tam Quốc. Ông nổi tiếng với tình bạn thủy chung cùng Lưu Bị và Trương Phi, trở thành biểu tượng của lòng trung nghĩa, nhân ái. Người Hoa tôn xưng ông là Quan Đế, Quan Thánh Đế hay trang trọng nhất là "Ông".

Tượng Quan Đế tại đây cao hơn 2 m, có lẽ là tượng lớn nhất trong số các tượng Quan Đế hiện được thờ ở TP.HCM. Đứng hầu hai bên là tượng Quan Bình Thái tử và Châu Xương Tướng quân cao gần 2 m, đặt trong tủ kính.

Các gian thờ phụ và hiện vật quý giá

Hai bên tả hữu chính điện có gian thờ Thiên Hậu Nguyên Quân và Tài Bạch Tinh Quân (Thần Tài), được bài trí giống nhau với bao lam phụng hoàng và khám thờ chạm cảnh vinh quy bái tổ, đánh cờ, chèo thuyền, giăng lưới, mục đồng cưỡi trâu, mai điểu, trúc điểu...

Tượng Thiên Hậu bằng gỗ cao 60 cm, ngồi trên ghế chạm, theo hầu có hai thị nữ và hai vị Thiên Lý Nhãn, Thuận Phong Nhĩ. Thần Tài được thể hiện bằng tượng gỗ cao 60 cm, cũng ngồi trên ghế chạm rồng, hai bên có Chiêu Tài Đồng Tử đứng hầu.

Lùi ra phía ngoài sát hai bên góc tường đặt hai bộ chuông trống đối xứng. Chuông bên trái bằng gang, đúc ở Phật Trấn - Quảng Đông vào năm Canh Tuất (1850). Chuông còn lại làm bằng đồng, với hàng chữ "Gia Định tỉnh, Minh Hương xã, Tân Trường Châu Nghĩa An hội quán" được chạm khắc, cho biết chuông được đúc trong khoảng từ năm 1836 đến 1865.

Lễ hội truyền thống và ý nghĩa văn hóa

Hằng năm, chùa Ông có hai lễ lớn nhất là lễ Nguyên tiêu vào ngày rằm tháng giêng và ngày vía Ông 24 tháng 6 âm lịch. Đặc biệt, ngày 13 tháng giêng diễn ra lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh Đế Quân xuất du, thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách thập phương. Ngày 14 và 15 tháng giêng là thời điểm vay lộc và trả lộc Ông, một nghi thức tâm linh quan trọng.

Quan Công đã trở thành vị thần tối thượng trong đời sống tinh thần của người Hoa ở Nam Bộ. Phần lớn trong số hơn 50 hoành phi, câu đối chạm chữ Hán mỹ thuật trong hội quán đều có nội dung ca ngợi công đức của ông.

Ngoài ra, hệ thống cột gỗ và kết cấu vì kèo "giá chiêng" đồ sộ trong chính điện cũng là điểm nhấn kiến trúc nổi bật. Toàn bộ hệ vì kèo, trên các mặt của con rường, câu đầu, rường cụt, bẩy hiên đều được chạm khắc trang trí tinh vi với mô típ rồng, lân, ngao, phong cảnh và điển tích.

Chùa Ông không chỉ là nơi thờ tự linh thiêng mà còn là điểm đến văn hóa, thu hút nhiều người Hoa và bà con khắp nơi tìm về trong những ngày lễ lớn, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc độc đáo tại TP.HCM.