Hải Vân quan và Ngũ Hành Sơn qua du ký của Tản Đà, Trần Hữu Tư
Hải Vân quan và Ngũ Hành Sơn qua du ký xưa

Qua đèo Hải Vân, những tàn tích của một thời mở cõi còn in hằn dấu vết phong sương trên các công trình do con người tạo tác, trong đó có Hải Vân quan. Nhà thơ Tản Đà từng viết: "Ải cổ mây cây che ổ cọp/Bia xưa rêu đá trổ da mồi/Sườn non thăm thẳm con giống dậy/Gành đá trơ trơ lớp sóng vui" (Qua Hải Vân, báo Tiếng dân số 3, 17.8.1927). Cũng trong năm 1927, khi du lịch từ Huế vào Tourane (Đà Nẵng), Tản Đà dừng xe ở Hải Vân quan và mô tả: "Cửa quan làm trên cao trông xuống đường… Trên cửa trước ba chữ Hải Vân quan; mặt cửa nữa sáu chữ Thiên hạ đệ nhất hùng quan, sự tu tạo đều về thời Minh Mạng".

Hải Vân quan trên Cửu đỉnh

Nhìn tàn tích, nhà thơ hồi cố về cuộc binh đao thời Trịnh - Nguyễn - Tây Sơn, rồi cho rằng Hải Vân quan ngày nay là thắng cảnh cho tham quan. Trong Giấc mộng lớn, ông viết: "Tiếc không được phong lưu thanh nhàn, thường được cùng đôi ba bạn hữu hữu tình, cùng nhau đi chơi thăm những lũy cổ bia tàn, để quan san không tịch mịch". Lê Quý Đôn, khi vào Đàng Trong, đã ghi chép tỉ mỉ trong Phủ biên tạp lục: "Hải Vân quan ở huyện Tư Vang, trên lên tận trời xanh, dưới xuống tận biển cả, là đất cổ họng của Thuận Quảng, có đồn canh và tuần ty".

Hải Vân quan trong du ký của Trần Hữu Tư

Trong Hải Long du ký, tác giả cho rằng đèo Hải Vân là ngọn đèo cao và lớn nhất nước. Ải Hải Vân quan được xây theo kiểu lâu thành để lính thú thời xưa trú, có bố trí đại bác giữ cửa Hàn. Nhưng thời điểm tác giả đến thăm, nó đã hoang tàn, đổ nát: "Ngày nay chỉ còn lại mấy đống gạch nứt vỡ, để phân chứng với chúng ta rằng, xưa kia tại Ải Vân quan cũng từng có lính nhà vua canh gác nghiêm nhặt lắm chớ không phải chơi".

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Vẻ đẹp Ngũ Hành Sơn qua du ký

Với Đà Nẵng, kỳ quan thiên tạo phải kể đến Ngũ Hành Sơn. Hải Long du ký diễn thơ: "Thắng cảnh miền Trung thật chốn nầy/Ngũ Hành Sơn đứng tại nơi đây/Năm hòn chiếu thủy hình kỳ quái/Một trái thông thiên lỗ trống quầy". Từ thời Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí ghi nhận Ngũ Hành Sơn gồm 6 ngọn núi đá (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa - 2 ngọn, Thổ), tục gọi là hòn Non Nước.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, khi đến chơi Ngũ Hành Sơn ngày 25.4.1927, đã ghi lại cảm xúc trong Giấc mộng lớn: "Rủ nhau lên động Huyền Không/Bụi trần trút sạch như không có gì". Ông còn nhớ mãi: "Hôm ấy, chiều giời phong quang, dòng sông êm ái, thuyền nan nhẹ mái, thật có vẻ thanh nhàn. Bầu rượu túi thơ, khách chơi lối cổ; non xanh đá đỏ, cảnh những chờ ai. Trải xem các chỗ động Tàng Xuân, chùa Linh Ứng, chùa Vân Ứng, động Vân Không, chùa Tam Thai, đài Vọng Hải, rồi ăn cơm ở động Huyền Không".

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Động Huyền Không và nghề đá Non Nước

Vẻ đẹp của động Huyền Không được các sử quan nhà Nguyễn ghi nhận là sâu thăm thẳm, trống rỗng như cái nhà cao rộng, phía trên có nhiều lỗ lớn thông với bên ngoài nên trông được cả mặt trăng, mặt trời. Vách đá có nhiều thạch nhũ nhỏ nước xuống không bao giờ hết. Tản Đà, khi tới đây, thấy bảng cấm du khách đề thơ trong động vì các quan cho là làm bẩn, nên bại hứng chỉ làm được hai câu thơ. Trần Hữu Tư từ Vọng Giang đài ngắm nhìn rõ các ngọn Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Theo Đại Nam nhất thống chí, "Núi sản đá hoa, chất trắng vân đen, dùng để chế đồ vật có hoa văn đẹp, lại có thứ đá trắng mịn như cục mỡ, dùng để chế bia đá hoặc cối đá rất tốt". Dân quanh Non Nước từ lâu đã có nghề làm đá, đục đá chế tác các vật dụng, tượng đá to nhỏ, rồi quẩy hàng đi bán khắp nơi. Tượng cẩm thạch đủ thứ tượng Phật, sư tử, voi, độc bình… Nghề ấy vẫn còn truyền đến nay. (còn tiếp)