Khoảng trống trong chuyển hóa di sản văn hóa
Ngày 13/7, tại Phiên họp thứ 2 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ một trong “bốn khoảng trống” lớn là năng lực chuyển hóa di sản văn hóa thành nguồn lực dữ liệu, tri thức số, tài sản trí tuệ và sức sáng tạo quốc gia. Việt Nam sở hữu hơn 40.000 di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh; gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó 38 di sản được UNESCO ghi danh, nhưng phần lớn chưa được số hóa, chuẩn hóa và kết nối thành dữ liệu dùng chung. Các giá trị di sản chưa được bảo hộ và khai thác hiệu quả dưới dạng tài sản trí tuệ, chưa trở thành tri thức số hay nguồn lực cho giáo dục, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo.
Nguyên nhân và thách thức
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thu Hạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Công nghiệp văn hóa Việt Nam (S-DCI), nhiều năm qua, việc bảo tồn di sản chủ yếu tập trung vào giữ gìn mà chưa chú trọng chuyển hóa thành giá trị mới. Điểm nghẽn chính là thiếu năng lực kết nối di sản với khoa học, công nghệ, giáo dục, thiết kế, truyền thông và thị trường. “Nguồn tài nguyên văn hóa phong phú nhưng giá trị kinh tế, giáo dục và sức lan tỏa xã hội còn khiêm tốn. Chúng ta có nhiều nguyên liệu nhưng thiếu hệ sinh thái đủ mạnh để biến thành nguồn lực phát triển quốc gia”, bà Hạnh nhận định.
Định hướng chuyển đổi số di sản
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Bảo tồn văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ là lưu giữ di sản, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, không chỉ số hóa để lưu trữ, mà phải số hóa để giáo dục, sáng tạo, lan tỏa, trở thành nguồn lực cho phát triển, cho công nghiệp văn hóa và cho trí tuệ nhân tạo của Việt Nam.” Ông lưu ý số hóa di sản không chạy theo tỷ lệ hình thức; dữ liệu di sản phải có định danh, nguồn gốc, chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng. Mỗi bộ dữ liệu cần được quản lý như tài sản có khả năng tạo giá trị khoa học, văn hóa và kinh tế.
Giải pháp từ chuyên gia và pháp lý
Tiến sĩ Nguyễn Thu Hạnh cho rằng cần có cơ chế thúc đẩy liên kết giữa văn hóa, công nghệ, giáo dục, du lịch, thiết kế, truyền thông và doanh nghiệp sáng tạo để hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh, đồng thời bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ bền vững. Đầu tư cho mô hình đổi mới sáng tạo dựa trên di sản để di sản không chỉ được kể lại mà còn được trải nghiệm, đối thoại và tiếp tục sáng tạo.
Luật sư Lê Quang Vinh, Giám đốc Công ty Sở hữu trí tuệ Bross & Partners, nhấn mạnh: “Muốn phát triển kinh tế di sản, cần đặt nó ở giao điểm của nhiều luật như Luật Di sản văn hóa, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Dữ liệu, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, cùng các quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo.” Ông lưu ý cần nhận diện rõ từng lớp giá trị của di sản, từ lớp lõi di sản đến lớp hình thành tài sản sở hữu trí tuệ, tài sản dữ liệu, tài sản số, tài sản có nguồn gốc nhà nước hay cộng đồng. Việc nhận diện đúng là cơ sở xác lập cơ chế khai thác phù hợp cho từng loại tài sản hình thành từ di sản.



