Báo động cận thị ở trẻ em: Nhiều trẻ 5-7 tuổi đã đeo kính, nguy cơ biến chứng
Báo động cận thị ở trẻ em: 5-7 tuổi đã đeo kính

Ngày càng nhiều trẻ em ở độ tuổi 5-7 phải đeo kính cận thị, thậm chí cận nặng ngay từ những năm đầu đến trường. Các bác sĩ cảnh báo cận thị không chỉ làm giảm thị lực mà còn tiềm ẩn nguy cơ nhược thị, bong võng mạc, thoái hóa hoàng điểm nếu không được phát hiện và kiểm soát kịp thời.

Phòng khám mắt quá tải trẻ em vào mùa hè

Mùa hè này, từ sáng sớm, phòng khám khúc xạ tại Bệnh viện Mắt TP.HCM đã kín người. Phần lớn là trẻ mẫu giáo, học sinh tiểu học và trung học cơ sở được cha mẹ đưa đến kiểm tra mắt. Nhiều trẻ còn rất nhỏ đã phải đeo cặp kính dày cộm.

Bác sĩ Lê Thị Kim Chi, Phó trưởng khoa Khúc xạ, Bệnh viện Mắt TP.HCM, cho biết phòng khám tiếp nhận trung bình 700-800 lượt bệnh nhân mỗi ngày, trong đó trẻ dưới 15 tuổi chiếm khoảng 30-33%. Vào mùa hè, số lượt khám tăng lên 1.000-1.100 lượt/ngày với tỷ lệ trẻ em khoảng 30-40%.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Nhiều phụ huynh chỉ đưa trẻ đi khám khi trẻ than nhìn mờ, nheo mắt hoặc có biểu hiện bất thường. Trong khi đó, trẻ cận 1-2 độ có thể nhìn xa mờ nhưng nhìn gần vẫn tương đối bình thường nên không phải lúc nào cũng tự nhận ra để báo với cha mẹ; có trường hợp đến bệnh viện khi đã cận 3-4 độ.

Câu chuyện từ các phụ huynh: Thói quen xấu và sự chủ quan

Trong lúc chờ khám, hai con của chị C.D (37 tuổi, ở TP.HCM) vẫn dán mắt vào điện thoại. Chị D. cho biết cả hai con đều mắc tật khúc xạ khoảng 2 năm nay. Bé gái 14 tuổi bị cận thị kèm loạn thị, độ cận từ hơn 1 độ tăng lên 2,75 độ. Bé trai 7 tuổi bị viễn thị 2,25 độ, loạn thị 5 độ.

Chị D. chia sẻ: "Tôi nghĩ đeo kính là được. Mỗi năm gia đình đưa con đi khám, xem độ tăng bao nhiêu rồi cắt kính mới." Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng cách tiếp cận này đã không còn phù hợp. Kiểm soát cận thị phải bắt đầu từ phát hiện sớm, thay đổi thói quen học tập, sử dụng thiết bị điện tử, tăng thời gian hoạt động ngoài trời và áp dụng các biện pháp điều trị chuyên sâu khi cần thiết.

Chị T.H (42 tuổi, ở Đồng Nai) đưa con gái 8 tuổi đi tái khám với nỗi lo độ cận tăng. Con gái chị được phát hiện cận thị từ năm 6 tuổi sau nhiều lần nheo mắt nhìn bảng. Lần khám đầu tiên, bé đã cận 4,75 độ, nay tăng lên hơn 5 độ. Theo chị H., ngoài giờ học, con gái gần như "dính" với điện thoại, ti vi.

Từ Cần Thơ, chị T.M (38 tuổi) cùng con gái 5 tuổi bắt xe lúc 12 giờ đêm để đến Bệnh viện Mắt TP.HCM. Kết quả khám cho thấy bé bị cận thị 0,75 độ. Mới 5 tuổi, bé đã xem điện thoại, ti vi khoảng 4-5 giờ mỗi ngày. Không chỉ xem khi chơi, điện thoại còn trở thành "điều kiện" để bé chịu ăn cơm. Chị M. cho hay: "Không mở cho xem là quấy khóc, bỏ bữa."

Tỷ lệ cận thị dự báo tăng cao, đặc biệt tại Đông Nam Á

Tiến sĩ-bác sĩ Trần Đình Minh Huy, Khoa Khúc xạ, Bệnh viện Mắt TP.HCM, cho biết báo cáo đăng trên tạp chí Ophthalmology năm 2016 dự báo đến năm 2050, khoảng 50% dân số thế giới có thể mắc cận thị. Riêng Đông Á và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, tỷ lệ này được ước tính 66-70%. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu ở trẻ 6-15 tuổi cũng ghi nhận tỷ lệ cận thị ở mức cao với 67,1% tại Hà Nội và 52,2% tại TP.HCM.

Bác sĩ Huy nhận định cận thị đã trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng. Đáng lo, nhóm cận thị nặng có thể chiếm khoảng 8-10% trong tổng số người cận thị, kéo theo gánh nặng về thị lực, học tập, lao động và nguy cơ biến chứng mắt về sau.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Nguyên nhân và hậu quả của cận thị

Theo bác sĩ Lê Thị Kim Chi, di truyền là yếu tố không thể can thiệp. Trẻ có cha hoặc mẹ bị cận thị dễ mắc cận thị hơn, nguy cơ này tăng thêm nếu cả cha và mẹ đều cận thị. Bên cạnh đó, môi trường và thói quen sinh hoạt là nhóm yếu tố có thể điều chỉnh. Việc nhìn gần liên tục, sử dụng thiết bị điện tử ở khoảng cách quá sát, học tập và giải trí chủ yếu trong không gian kín là những yếu tố chính làm tăng nguy cơ mắc cận thị, nhất là ở trẻ em đô thị.

Bác sĩ Chi lưu ý nếu không được phát hiện và điều chỉnh kịp thời, trẻ có thể không nhìn rõ bảng, tiếp thu bài kém. Đáng lo, trẻ cận thị nặng hoặc có bất đồng khúc xạ nếu không được đeo kính phù hợp trong giai đoạn phát triển thị giác có thể bị nhược thị. Khi bị nhược thị, dù được chỉnh đúng độ kính, thị lực của mắt yếu vẫn có thể không đạt mức bình thường. Nếu được phát hiện sớm, tốt nhất trước 2-3 tuổi hoặc ít nhất trước 7 tuổi, trẻ vẫn có cơ hội điều trị để cải thiện thị lực.

Ngoài ra, trẻ còn có thể mất thị giác hai mắt, ảnh hưởng khả năng nhìn hình nổi, ước lượng khoảng cách khi chơi thể thao hoặc tham gia giao thông. Với cận thị nặng, trục nhãn cầu dài ra quá mức còn làm tăng nguy cơ bong võng mạc, thoái hóa hoàng điểm và nhiều bệnh lý mắt nguy hiểm khi trưởng thành.

Kiểm soát cận thị: Không chỉ đo độ và thay kính

Về kiểm soát tiến triển cận thị, bác sĩ Chi cho biết hiện đã có nhiều phương pháp như: nhỏ Atropine nồng độ thấp, kính gọng thiết kế đặc biệt, kính tiếp xúc ban đêm Ortho-K hoặc mới hơn là liệu pháp ánh sáng đỏ. Các phương pháp này phải được chỉ định, theo dõi tại cơ sở chuyên khoa mắt, phụ huynh không nên tự mua kính, tự dùng thuốc hoặc tự áp dụng cho trẻ.

Tiến sĩ-bác sĩ Trần Đình Minh Huy cho rằng cách tiếp cận hiện nay không thể chỉ đo độ rồi thay kính. Mục tiêu quan trọng hơn là kiểm soát tốc độ tiến triển của cận thị, hạn chế nguy cơ cận thị nặng và giảm biến chứng. Trong quản lý lâu dài, theo dõi chiều dài trục nhãn cầu có vai trò quan trọng vì cận thị liên quan đến tình trạng trục nhãn cầu dài ra.

Khuyến cáo từ chuyên gia

Bác sĩ Huy khuyến cáo trẻ cần được tầm soát mắt và tật khúc xạ ở các mốc 6 tháng tuổi, 3 tuổi, 5 tuổi, 6 tuổi, sau đó khám định kỳ mỗi năm một lần. Với trẻ đã cận thị hoặc có nguy cơ cao, lịch theo dõi cần theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Để giảm gánh nặng cận thị học đường, cần sự phối hợp giữa y tế, giáo dục, nhà trường và phụ huynh.

Theo bác sĩ Chi, phụ huynh nên giúp trẻ tăng thời gian hoạt động ngoài trời, hạn chế nhìn gần, ngồi học đúng khoảng cách, đủ ánh sáng, cho mắt nghỉ khi dùng màn hình và khám định kỳ.

Hệ lụy sức khỏe tâm thần từ thiết bị điện tử

Bác sĩ Nguyễn Thanh Sang, Trưởng khoa Liên chuyên khoa Tâm lý lâm sàng - phục hồi chức năng - y học cổ truyền, Bệnh viện Nhi đồng 2, cho biết ngày càng nhiều trẻ bị ảnh hưởng đến sự phát triển do sử dụng thiết bị điện tử quá mức. Tình trạng lệ thuộc vào ti vi, điện thoại thông minh không chỉ gây tác động trước mắt mà còn để lại hệ lụy lâu dài đối với sức khỏe tâm thần, khả năng học tập và phát triển của trẻ.

Một trong những biểu hiện phổ biến là chậm nói. Trẻ tiếp xúc với màn hình quá nhiều thường giảm tương tác với người xung quanh, dẫn đến hạn chế phát triển ngôn ngữ. Ngoài ra, nhiều trẻ còn bị rối loạn giấc ngủ, giảm khả năng tập trung, tiếp thu kém, sa sút học tập. Một số trường hợp xuất hiện rối loạn hành vi do từ nhỏ đã quen được đáp ứng bằng các thiết bị điện tử.

Nếu được phát hiện sớm, đặc biệt ở những trẻ chậm nói đơn thuần, việc can thiệp thường không quá phức tạp và hiệu quả điều trị khá tốt. Ngược lại, nếu không được can thiệp kịp thời, trẻ có thể gặp nhiều hệ lụy như suy giảm thị lực, thiếu kỹ năng xã hội, khó hòa nhập với bạn bè, thậm chí chán học, né tránh trường lớp, ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách.

Bác sĩ Sang khuyến cáo phụ huynh cần giảm dần và hạn chế thời gian cho trẻ sử dụng thiết bị điện tử. Thay vào đó, cha mẹ nên dành nhiều thời gian trò chuyện, chơi cùng con, tạo môi trường giao tiếp tích cực. Đồng thời, gia đình cần phối hợp với nhà trường để khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động tập thể, vận động thể chất và giao tiếp với bạn bè, qua đó phát triển toàn diện các kỹ năng xã hội.