Sở hữu đất chưa có nhà: Có được mua nhà ở xã hội?
Sở hữu đất chưa có nhà: Có được mua nhà ở xã hội?

Theo quy định tại Nghị định số 100/2024/NĐ-CP, được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 54/2026/NĐ-CP, việc xác định trường hợp chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được quy định cụ thể. Cụ thể, đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật Nhà ở và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) được xác định là không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội.

Mở rộng tiêu chí theo Nghị định 54/2026

Sau khi tiêu chí được mở rộng theo Nghị định số 54/2026, nhiều người dân quan tâm liệu nếu chỉ sở hữu đất nhưng chưa có nhà ở có được mua nhà ở xã hội hay không. Một công dân tại Hà Nội cho biết, bà đã đứng tên đất ở nhưng chưa xây nhà trên đất, trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà không có thông tin về nhà ở. Người này đặt câu hỏi liệu trường hợp của mình có đáp ứng điều kiện về nhà ở để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội hay không.

Phản hồi từ Bộ Xây dựng

Trả lời nội dung trên, Bộ Xây dựng cho biết, để được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, người dân phải thuộc nhóm được hưởng chính sách hỗ trợ và đáp ứng đầy đủ các điều kiện về nhà ở, thu nhập theo quy định pháp luật.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Tại điểm a khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 quy định điều kiện về nhà ở cho đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76 của Luật này để được mua, thuê mua nhà ở xã hội phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: "… đối tượng quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 76 của Luật này để được mua, thuê mua nhà ở xã hội thì phải chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó, chưa được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở dưới mọi hình thức tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu;…"

Hai trường hợp xem xét điều kiện nhà ở

Ngoài ra, Điều 29 Nghị định 100/2024/NĐ-CP quy định rõ hai trường hợp được xem xét về điều kiện nhà ở:

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình
  • Thứ nhất, người chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình được xác định là không có tên hoặc không có thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại địa phương nơi có dự án nhà ở xã hội. Trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận đề nghị, cơ quan có thẩm quyền sẽ xác nhận tình trạng nhà ở.
  • Thứ hai, trường hợp đã có nhà ở nhưng diện tích sử dụng bình quân dưới 15m2 sàn/người vẫn có thể đủ điều kiện. Diện tích này được tính trên cơ sở số người đăng ký thường trú tại căn nhà, gồm người đứng đơn, vợ hoặc chồng, cha mẹ và con (nếu có). UBND cấp xã sẽ xác nhận thông tin trong thời hạn 7 ngày kể từ khi nhận hồ sơ.

Kết luận từ Bộ Xây dựng

Từ các quy định trên, Bộ Xây dựng khẳng định: trường hợp công dân (và vợ hoặc chồng của công dân) không có tên hoặc không có nội dung thông tin về nhà ở trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó thì đáp ứng điều kiện về nhà ở để được mua nhà ở xã hội.

Quỳnh Chi (theo Tiền Phong, baochinhphu)