Bộ trưởng Xây dựng nhấn mạnh vai trò then chốt của hạ tầng giao thông
Trong phiên giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội tại phiên thảo luận về kinh tế xã hội diễn ra chiều ngày 20 tháng 4, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã trình bày chi tiết về tầm quan trọng của việc phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng, đặc biệt là trong lĩnh vực giao thông. Ông khẳng định rằng đây chính là nền tảng cốt lõi để thúc đẩy mạnh mẽ sự liên kết giữa các vùng miền, mở rộng không gian phát triển kinh tế và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn sắp tới.
Quy hoạch mạng lưới cao tốc đến năm 2050
Theo báo cáo của Bộ trưởng, quy hoạch hệ thống đường cao tốc đến năm 2050 dự kiến cả nước sẽ có tổng cộng 43 tuyến với tổng chiều dài lên đến khoảng 8.993 km. Trong đó, một phần quan trọng là 6.539 km sẽ được ưu tiên đầu tư hoàn thành trước năm 2030, phần còn lại sẽ tiếp tục được triển khai trong giai đoạn từ 2030 đến 2050.
Tính đến thời điểm hiện tại, mạng lưới cao tốc đã được đưa vào khai thác và thông xe kỹ thuật đạt khoảng 3.345 km, cùng với 458 km nút giao. Về quy mô đầu tư cụ thể:
- 548 km cao tốc 2 làn xe, chiếm tỷ lệ 16%.
- 1.559 km cao tốc 4 làn xe hạn chế, chiếm tỷ lệ 47%.
- 238 km cao tốc 4 - 6 làn xe hoàn chỉnh, chiếm tỷ lệ 3,7%.
Hiện nay, đang có 1.252 km đang trong giai đoạn chuyển tiếp và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2027. Đến hết năm 2025, mật độ cao tốc trên toàn quốc ước tính đạt khoảng 2,23 km/100 km². Tuy nhiên, vẫn tồn tại sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng, khi khu vực đồng bằng sông Cửu Long đạt mức 4,43 km/100 km², trong khi 14 tỉnh thuộc vùng biên giới phía Bắc chỉ đạt 0,58 km/100 km².
Trong giai đoạn từ 2026 đến 2030, kế hoạch sẽ tập trung nguồn lực để đầu tư và nâng cấp khoảng 1.721 km đường cao tốc, bao gồm việc nâng cấp các tuyến cao tốc 2 làn xe và 4 làn xe hạn chế lên thành 6 làn xe theo đúng quy hoạch đã đề ra. Tổng nhu cầu vốn cho dự án này ước tính vào khoảng 802.868 tỉ đồng.
Hệ thống quốc lộ và phân cấp quản lý
Đối với hệ thống quốc lộ, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết hiện cả nước có tổng chiều dài 24.376 km. Thực hiện chủ trương phân cấp quản lý, kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, Bộ Xây dựng đã chuyển giao 17.520 km cho các địa phương trực tiếp quản lý. Hiện tại, Bộ vẫn đang quản lý 4.875 km, chủ yếu là các tuyến đường theo hình thức BOT và một số dự án có liên quan đến lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
Đẩy mạnh phát triển đường sắt quốc gia và đô thị
Trong lĩnh vực đường sắt, theo quy hoạch, mạng lưới sẽ bao gồm 25 tuyến với tổng chiều dài 6.658 km. Trong đó, có 7 tuyến hiện hữu với chiều dài 2.510 km và 18 tuyến mới sẽ được xây dựng với chiều dài 4.148 km.
Bộ trưởng nhấn mạnh rằng hệ thống đường sắt quốc gia hiện nay chủ yếu sử dụng khổ đường 1.000 mm, được xây dựng từ rất lâu. Riêng tuyến Hà Nội - Lạng Sơn đang sử dụng khổ tiêu chuẩn 1.435 mm. Trong thời gian tới, trọng tâm sẽ là phát triển các tuyến đường sắt quốc gia trọng điểm như:
- Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.
- Hà Nội - Lạng Sơn.
- Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái.
- Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ - Cà Mau.
Về đường sắt đô thị, tính đến nay cả nước đã hoàn thành 3 tuyến với tổng chiều dài khoảng 41 km, trong đó Hà Nội có 2 tuyến và Thành phố Hồ Chí Minh có 1 tuyến. Trong giai đoạn sắp tới, Hà Nội dự kiến sẽ phát triển thêm 18 tuyến với tổng chiều dài 1.052 km, còn Thành phố Hồ Chí Minh sẽ đầu tư xây dựng 12 tuyến với hơn 1.700 km. Tổng chiều dài của hệ thống đường sắt đô thị sẽ đạt khoảng 2.224 km trên 30 tuyến, với nhu cầu vốn đầu tư ước tính khoảng 743.907 tỉ đồng.
Định hướng phát triển hệ thống hàng không
Trong lĩnh vực hàng không, Bộ trưởng Bộ Xây dựng cho biết theo quy hoạch đến năm 2030, cả nước sẽ có 31 cảng hàng không, bao gồm 15 cảng quốc tế và 16 cảng nội địa, với tổng công suất khai thác đạt khoảng 294 triệu hành khách mỗi năm. Định hướng đến năm 2050, con số này sẽ tăng lên 34 cảng với công suất khai thác lên đến 533 triệu hành khách mỗi năm.
Tính đến thời điểm hiện tại, cả nước đã có 22 cảng hàng không đang hoạt động với tổng công suất khoảng 155 triệu hành khách mỗi năm, tăng 1,6 lần so với nhiệm kỳ trước. Về định hướng phát triển cụ thể, trong số 31 cảng hàng không theo quy hoạch, sẽ có 6 cảng đạt cấp 4F, 1 cảng đạt cấp 4C và các cảng còn lại sẽ đạt cấp 4E.



