Trong căn nhà nhỏ ở phường Láng (Hà Nội), ông Nguyễn An Hải (sinh năm 1961) nâng niu từng tập giấy đã ngả màu thời gian. Bên cạnh ông, bà Bùi Vi Anh, 93 tuổi, lặng lẽ dõi theo. Hai mẹ con chậm rãi lật từng trang trong số 96 trang hồ sơ, kỷ vật của người chồng, người cha – liệt sĩ Nguyễn Đức Châu, vừa được trao lại tại Hội nghị tri ân người có công với cách mạng toàn quốc năm 2026. Ông Hải đưa một tờ giấy lại gần mẹ, bà chăm chú nhìn những dòng chữ đã phai, đầu ngón tay khẽ lần theo mép giấy như muốn chạm vào dấu vết của người đã rời xa gia đình từ 60 năm trước.
Cuộc đoàn tụ sau 60 năm
Liệt sĩ Nguyễn Đức Châu và bà Bùi Vi Anh đều là giáo viên. Ông dạy văn tại Trường Sư phạm trung cấp Hải Phòng (nay là Trường Đại học Hải Phòng), còn bà dạy sử tại Trường Học sinh Miền Nam số 4 ở Hải Phòng. Họ đến với nhau giữa những năm tháng chiến tranh, cùng chia sẻ lý tưởng: Tổ quốc là trên hết, sẵn sàng hy sinh vì đất nước. Cả hai từng tham gia giảng dạy cho học sinh miền Nam tập kết ra Bắc. Tên người con trai Nguyễn An Hải được ghép từ tên hai ngôi trường nơi cha mẹ ông công tác, gửi gắm mong ước về một cuộc đời bình an.
Nhưng chiến tranh không để gia đình nhỏ ấy được sống trọn vẹn. Theo kế hoạch ban đầu, vợ chồng ông Châu cùng đăng ký đi B từ năm 1963. Bà Vi Anh từng tham gia phong trào học sinh yêu nước trong nội thành Hà Nội từ những năm 1948-1949. “Tôi nghĩ việc đi B khi ấy là rất bình thường. Chồng đi thì vợ cũng muốn đi cùng”, bà kể. Kế hoạch bị hoãn, và trong thời gian đó, vợ chồng bà có thêm người con gái thứ hai. Đến năm 1965, ông Châu nhận quyết định đi B, còn bà ở lại với hai con. Ngày người thầy giáo trẻ rời Hải Phòng, con trai An Hải mới 4 tuổi, con gái út vừa 11 tháng rưỡi.
Người thầy giáo hy sinh
Trong tập hồ sơ trở về sau 60 năm có quyết định điều động ông Châu vào chiến trường. Ông Hải cầm tờ quyết định, còn bà Vi Anh lặng lẽ dõi theo những dòng chữ ghi ngày người chồng lên đường – thời khắc gia đình bắt đầu cuộc chia ly kéo dài hơn nửa thế kỷ. Cả hai vợ chồng trẻ khi ấy đều hiểu vào chiến trường đồng nghĩa với đối mặt hiểm nguy, nhưng xem đó là trách nhiệm của thế hệ mình. “Tôi yêu đất nước, sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc tình yêu thương lớn nhất của cuộc đời mình”, bà nhớ lại.
Năm 1966, một năm sau ngày lên đường, thầy giáo Nguyễn Đức Châu hy sinh tại chiến trường Tây Ninh. Tin ấy đến với gia đình không phải trong một khoảnh khắc đột ngột, mà qua những lời báo tin dè dặt của bạn bè, đồng đội. Người này nói một câu, người khác cho biết thêm một chi tiết. Bà Vi Anh nghe, hiểu, nhưng vẫn cố giữ lại hy vọng mong manh. “Thực ra đó chỉ là một niềm hy vọng rất mơ hồ. Trong lòng tôi cũng biết tin ấy là chính xác”, bà kể.
Nỗi đau và hy vọng
Khi ấy, ông Hải còn quá nhỏ để hiểu thế nào là sự hy sinh. Ông chỉ nhớ mẹ khóc. Cậu bé thấy mẹ buồn, chạy đến hỏi. Bà ôm con vào lòng rồi nói: “Bố con hy sinh rồi”. “Lúc đó tôi còn quá nhỏ, chỉ biết khóc theo mẹ, chưa đủ lớn để hiểu hết mất mát ấy. Sau này tôi mới cảm nhận được rằng sẽ không còn những buổi cả nhà cùng nhau đi chơi ở vườn hoa Hải Phòng nữa rồi”, ông Hải nói.
Nỗi mất mát ấy trở thành một phần cuộc đời người mẹ trẻ. “Tôi chỉ nghĩ thương các con”, bà Bùi Vi Anh nói khi nhắc đến quyết định ở vậy sau ngày chồng hy sinh. Bà sợ nếu đi thêm bước nữa, trong nhà sẽ có “con anh, con tôi, con chúng ta”, và những đứa trẻ đã mất cha sẽ chịu thêm thiệt thòi. “Các con đã mất cha, điều còn lại chỉ là tình thương của mẹ. Nếu tôi lập gia đình mới thì tình cảm cũng sẽ phải chia sẻ, các con sẽ càng thiệt thòi hơn”, bà tâm sự.
Hành trình tìm lại kỷ vật
Chấp nhận sự thật không có nghĩa bà thôi mong một ngày được gặp lại chồng. Mùa hè năm 1975, khi đất nước vừa thống nhất, bà lập tức xin vào Tây Ninh tìm phần mộ ông Nguyễn Đức Châu. Hành trình khi ấy không hề dễ dàng. Tàu chỉ có vé đến Vinh, từ đó phải tiếp tục đi ô tô. Nhiều người xếp hàng cả tuần vẫn chưa mua được vé, còn bà may mắn được một người mua giúp để kịp lên đường. Trước lúc đi, bà xin phép nhà trường và Sở Giáo dục. Biết hoàn cảnh của nữ giáo viên, lãnh đạo động viên bà yên tâm vào Nam giải quyết công việc, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi.
Tại Tây Ninh, cơ quan chức năng đưa bà đến nơi người chồng yên nghỉ và giúp gia đình đưa hài cốt liệt sĩ về miền Bắc. Đó là lần gặp lại đầu tiên của bà với người chồng sau gần mười năm chia xa. Hài cốt người liệt sĩ đã trở về từ năm 1975, nhưng những giấy tờ từng theo người thầy giáo trẻ vào chiến trường vẫn bặt vô âm tín. Phải thêm hơn nửa thế kỷ, cuộc trở về ấy mới thực sự trọn vẹn.
Ý nghĩa của những trang giấy
Ở tuổi 93, mái tóc đã bạc trắng, gương mặt hằn dấu thời gian nhưng ánh mắt vẫn tinh anh, bà Vi Anh thêm một lần nhìn gương mặt người chồng qua tấm giấy chứng minh đã ngả màu. Người thầy giáo trong bức ảnh mãi dừng lại ở tuổi 30. “Bao nhiêu hy sinh, mình chỉ là hạt cát thôi mà. Không có những con người sẵn sàng hy sinh thì làm sao có độc lập”, bà nói rồi khẽ khép tập hồ sơ.
Sáu mươi năm sau ngày rời Hải Phòng đi B, thầy giáo Nguyễn Đức Châu trở về với gia đình không chỉ bằng phần hài cốt được đưa từ Tây Ninh về quê hương, mà còn bằng 96 trang hồ sơ đã đi qua chiến tranh, cuối cùng đến tay những người thân yêu nhất. Khái niệm “đi B” bắt đầu xuất hiện từ cuối năm 1959, khi nhiều cán bộ, chiến sĩ và đồng bào miền Bắc tình nguyện lên đường vượt dãy Trường Sơn để “chia lửa” cùng quân và dân miền Nam chiến đấu giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Trước khi lên đường, các cán bộ đi B phải gửi lại toàn bộ tư trang, giấy tờ và tài sản cá nhân cho Ủy ban Thống nhất Chính phủ giữ để đảm bảo bí mật. Người đi B chỉ được mang theo đồ dùng cá nhân cần thiết do Ủy ban cấp, nhiều người được đổi tên và mang mật danh mới. Hiện nay, toàn bộ hồ sơ của các cán bộ đi B do Trung tâm Lưu trữ quốc gia III quản lý, lưu giữ ký ức về cuộc đời của những người con quả cảm sẵn sàng ra trận làm nhiệm vụ đặc biệt.



