Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu dịch chuyển dựa trên nền tảng số và công nghệ xanh, Việt Nam đang tìm lời giải cho những điểm nghẽn kinh niên của thị trường lao động, nhằm biến lợi thế dân số thành lợi thế cạnh tranh quốc gia dài hạn.
Thực trạng thị trường lao động Việt Nam
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu người làm việc về số lượng, mà là thiếu lao động đáp ứng yêu cầu phát triển giai đoạn mới. Theo báo cáo thị trường lao động 6 tháng đầu năm 2026, quy mô lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 53,7 triệu người. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới chỉ đạt 29,7%, nghĩa là hơn 70% lực lượng lao động chưa được công nhận trình độ chuyên môn kỹ thuật chính thức.
Trong nhóm đã qua đào tạo, chất lượng thực tế chưa bắt kịp dòng chảy công nghệ. Nền kinh tế thiếu hụt trầm trọng kỹ thuật viên, công nhân lành nghề, nhân lực thực hành, nhân lực công nghệ cao và đội ngũ quản trị trung gian.
Hai nghịch lý lớn: lao động phi chính thức và thất nghiệp thanh niên
Thị trường lao động Việt Nam đối mặt với hai nghịch lý: tỷ lệ lao động phi chính thức cao và thất nghiệp ở thế hệ trẻ vẫn nhức nhối. Dù đã giảm từ 72,06% năm 2018 xuống 64,47% năm 2024 và đạt 61,9% trong 6 tháng đầu năm 2026, khu vực việc làm phi chính thức vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo. Gần 2/3 người lao động Việt Nam làm việc không có hợp đồng rõ ràng, thu nhập bấp bênh, không được đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, thiếu phúc lợi xã hội tối thiểu.
Số liệu quý II/2026 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp chung duy trì ở mức thấp 2,23%, nhưng tỷ lệ thất nghiệp thanh niên (15-24 tuổi) lên tới 8,67%, riêng khu vực thành thị là 9,75%. Cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm và cũng không tham gia học tập, đào tạo – chiếm 10% tổng số thanh niên.
Nguyên nhân: lệch pha đào tạo và hội chứng sính bằng cấp
Nguyên nhân chính là sự lệch pha (mismatch) giữa cơ cấu đào tạo và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Thiếu hụt trầm trọng các kỹ năng thiết yếu thế kỷ XXI: kỹ năng nghề chuyên sâu, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, ngoại ngữ, kỹ năng số và kỹ năng xanh. Nhiều thập kỷ qua, tâm lý xã hội bị bủa vây bởi "hội chứng sính bằng cấp", coi tấm bằng đại học là tấm vé duy nhất vào đời, gây ra hiện tượng "thừa thầy, thiếu thợ". Hàng triệu cử nhân thất nghiệp hoặc làm trái ngành, trong khi các nhà máy, tập đoàn công nghệ đỏ mắt tìm kiếm kỹ sư thực hành và công nhân kỹ thuật cao.
Trước thực trạng đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu thay đổi triệt để tư duy, chuyển từ coi trọng số lượng sang chất lượng, hiệu quả sử dụng và khả năng đóng góp vào năng suất lao động. Người đứng đầu Đảng và Nhà nước khẳng định thước đo cuối cùng của chính sách giáo dục và lao động không phải là số cử nhân, thạc sĩ hay số người có việc làm, mà là việc làm đó có ổn định, chính thức, mang lại năng suất và giá trị gia tăng cao hay không. Người lao động có thu nhập xứng đáng, có bảo hiểm xã hội, và quan trọng nhất là cơ hội "học tập suốt đời" để chủ động chuyển đổi nghề nghiệp trước làn sóng công nghệ.
Thay đổi tư duy đào tạo: từ khả năng nhà trường sang đơn đặt hàng doanh nghiệp
Yêu cầu này đòi hỏi toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp, phải chuyển từ "đào tạo theo khả năng sẵn có của nhà trường" sang "đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp", lấy chuẩn kỹ năng và kết quả đầu ra thực tế làm cam kết chất lượng tối thượng.
Biến lợi thế dân số thành lợi thế phát triển dài hạn
Để nâng cao chất lượng sống, không có con đường nào khác ngoài nâng cao năng suất lao động xã hội. Năng suất lao động toàn nền kinh tế Việt Nam đã tăng từ 21,4 triệu đồng/lao động năm 2005 lên 24,5 triệu đồng/lao động năm 2025. Tuy nhiên, cơ cấu năng suất phân hóa lớn giữa các ngành. Năm 2024, ngành sản xuất và phân phối điện đạt 2,998 tỷ đồng/lao động, thông tin truyền thông đạt 1,15 tỷ đồng/lao động, tài chính ngân hàng 1,1 tỷ đồng/lao động. Trong khi đó, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ đạt 101,3 triệu đồng/lao động. Khu vực nông thôn chiếm tới 60,7% tổng số lao động có việc làm tính đến 6 tháng đầu năm 2026.
Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về việc làm bền vững được cụ thể hóa thành các chiến lược: việc làm bền vững gắn với mô hình tăng trưởng mới dựa trên đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Mục tiêu không chỉ là tạo thêm việc làm, mà là những việc làm "tốt hơn, chính thức hơn", dịch chuyển lao động vào chuỗi giá trị có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao. Phải thúc đẩy chuyển dịch lao động có kỹ năng, tạo sinh kế bền vững tại chỗ thông qua nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ nông thôn, nhằm nâng cao thu nhập thực tế cho cư dân nông thôn. Tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phải khơi dậy nội lực, kết hợp đào tạo nghề gắn với văn hóa bản địa để giảm nghèo bền vững, giúp đồng bào "ly nông bất ly hương".
Thách thức già hóa dân số và cửa sổ dân số vàng
Việt Nam đứng trước thách thức già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nhóm tuổi 15-24 trong lực lượng lao động sụt giảm từ 21,5% năm 2000 xuống 9,61% năm 2024. Ngược lại, nhóm từ 50 tuổi trở lên tăng từ 12,4% lên 29,27% cùng giai đoạn. Cửa sổ "dân số vàng" sẽ không tồn tại mãi. Nếu không nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và "chưa giàu đã già".
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã giao Đảng ủy Chính phủ xây dựng Đề án phát triển nguồn nhân lực quốc gia và thị trường lao động hiện đại. Các nhiệm vụ cụ thể gồm: xây dựng Bản đồ thiếu hụt lao động và kỹ năng, rà soát thực trạng chất lượng lao động theo ngành, vùng, địa phương; cơ cấu lại hệ thống trường nghề, ban hành danh mục nghề trọng điểm quốc gia phù hợp với các ngành công nghiệp mũi nhọn như bán dẫn, năng lượng tái tạo, trí tuệ nhân tạo; hoàn thiện thể chế thị trường lao động, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi từ phi chính thức sang chính thức; thu hút có chọn lọc chuyên gia, tri thức, nhân tài quốc tế.
Mở rộng tầm nhìn ra thị trường toàn cầu
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển, việc đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài cần được nâng tầm. Không đơn thuần là xuất khẩu lao động thu ngoại tệ, mà phải là kênh "gửi quân đi học tập", nâng cao kỹ năng, tác phong công nghiệp tiên tiến để khi trở về, họ trở thành lực lượng bổ sung chất lượng cao cho nền kinh tế. PGS.TS. Vũ Thị Tú Anh, Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo gắn với thực tiễn doanh nghiệp và nhu cầu thị trường lao động toàn cầu.



