Cơ quan thuế Huế giải thích chi tiết cách tính thuế thu nhập cá nhân khi tặng cho đất đai
Cổng thông tin Bộ Tài chính vừa đăng tải nội dung liên quan đến chính sách thuế thu nhập cá nhân áp dụng cho việc tặng cho quyền sở hữu sử dụng đất. Trường hợp cụ thể được nêu ra liên quan đến cá nhân Đỗ Thanh Hà, người đã gửi câu hỏi về việc tính thuế trong một hợp đồng tặng cho đất đai.
Chi tiết vụ việc và câu hỏi pháp lý
Theo đó, thửa đất do hai chị em đồng sở hữu là bà Nguyễn Thị Hảo và bà Nguyễn Thị Thảo. Hai người này đã lập hợp đồng tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất cho ba người, bao gồm ông Hồ Vĩnh Trải (con đẻ của bà Hảo), ông Hoàng Trọng Hiếu (con đẻ của bà Thảo) và cháu Hoàng Đình Ái Hữu. Dựa trên quy định pháp luật, việc tặng cho giữa mẹ và con đẻ được miễn thuế thu nhập cá nhân, do đó chỉ cần tính thuế đối với người cháu. Tuy nhiên, Thuế cơ sở 1 thành phố Huế lại tính thuế cho hai trong số ba người nhận tặng cho. Điều này đặt ra câu hỏi: Việc tính thuế như vậy là đúng hay sai?
Phân tích pháp lý từ cơ quan thuế
Sau khi xem xét hồ sơ và đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành, Thuế cơ sở 1 thành phố Huế đã đưa ra câu trả lời chi tiết, dựa trên ba căn cứ chính.
Căn cứ xác định thu nhập chịu thuế và thu nhập miễn thuế
Theo khoản 9 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12, thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản và các tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc sử dụng thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 4 của luật này quy định rằng thu nhập từ chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng bất động sản giữa các mối quan hệ gia đình gần gũi như cha mẹ đẻ với con đẻ, anh chị em ruột được miễn thuế. Do đó, trong trường hợp này, chỉ phần giá trị tài sản nhận tặng cho có mối quan hệ thuộc diện miễn thuế mới được áp dụng quy định miễn thuế.
Căn cứ xác định phần tài sản được định đoạt tặng cho
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thấy bà Nguyễn Thị Hảo và bà Nguyễn Thị Thảo là đồng sở hữu quyền sử dụng đất mà không có thỏa thuận tỷ lệ sở hữu cụ thể. Căn cứ vào khoản 2 Điều 210 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, các sở hữu chung hợp nhất có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. Vì vậy, về nguyên tắc pháp lý, mỗi người có quyền định đoạt đối với một nửa giá trị quyền sử dụng đất của mình, trừ khi có thỏa thuận khác.
Xác định nghĩa vụ thuế cụ thể
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được công chứng vào ngày 16 tháng 1 năm 2026 không thể hiện tỷ lệ tặng cho cụ thể, mà chỉ ghi nhận việc hai bà tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất cho ba người. Do quyền sử dụng đất là tài sản sở hữu chung, việc tặng cho được xác định theo từng phần quyền của mỗi người tặng, chia đều cho ba người nhận.
- Đối với một nửa giá trị tài sản của bà Nguyễn Thị Hảo: Phần này được chia cho ba người nhận. Trong đó, phần nhận tặng cho ông Hồ Vĩnh Trải (quan hệ mẹ - con đẻ) được miễn thuế thu nhập cá nhân. Phần tặng cho ông Hoàng Trọng Hiếu và cháu Hoàng Đình Ái Hữu không thuộc diện miễn thuế, do đó phải tính thuế thu nhập cá nhân theo quy định.
- Đối với một nửa giá trị tài sản của bà Nguyễn Thị Thảo: Phần này cũng được chia cho ba người nhận. Phần nhận tặng cho ông Hoàng Trọng Hiếu (quan hệ mẹ - con đẻ) được miễn thuế thu nhập cá nhân. Phần tặng cho ông Hồ Vĩnh Trải và cháu Hoàng Đình Ái Hữu không thuộc diện miễn thuế, nên phải tính thuế thu nhập cá nhân.
Như vậy, việc Thuế cơ sở 1 thành phố Huế tính thuế cho hai trong số ba người nhận tặng cho là hoàn toàn đúng dựa trên phân tích pháp lý chi tiết. Cách tính này đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định về miễn thuế và chịu thuế, phản ánh đúng bản chất của mối quan hệ giữa người tặng và người nhận trong từng phần tài sản cụ thể.



