Trong bối cảnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, khu vực kinh tế nhà nước không chỉ giữ vai trò chủ đạo mà còn phải thực sự trở thành lực lượng dẫn dắt, mở đường và kiến tạo không gian phát triển mới. Ngày 6/7, Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật đã ban hành kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên họp thứ nhất, khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước phải được thể hiện bằng năng lực dẫn dắt, điều tiết, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn và chi phối những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược – không phải bằng khẩu hiệu, bao cấp, độc quyền hay ưu đãi hành chính.
Tinh thần đó mở ra giai đoạn phát triển mới: kinh tế nhà nước không còn chỉ là “trụ cột” ổn định vĩ mô mà phải vươn lên làm chủ các “cao điểm chiến lược” – từ hạ tầng số, năng lượng, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo đến các ngành công nghiệp nền tảng và công nghệ cao. Loạt bài “Kinh tế nhà nước: Làm chủ các 'cao điểm chiến lược' để dẫn dắt nền kinh tế” sẽ phân tích yêu cầu mới, nhận diện rào cản và phản ánh nỗ lực chuyển mình của khu vực này.
Sứ mệnh vươn tầm quốc tế
Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước đặt mục tiêu chiến lược nâng tầm doanh nghiệp nhà nước thành những “sếu đầu đàn” đủ sức cạnh tranh quốc tế. Không chỉ bứt phá về quy mô vốn, các doanh nghiệp này còn mang sứ mệnh dẫn dắt, tạo lập hệ sinh thái và làm bệ đỡ cho doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Nghị quyết 79 nhấn mạnh: “Xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế”. Mục tiêu đến năm 2030: phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Đến năm 2045, con số này là khoảng 60 và 5 doanh nghiệp.
Hiện tại, Việt Nam chưa có doanh nghiệp nào trong bảng xếp hạng toàn cầu, nhưng tại bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp Đông Nam Á năm 2025 của Fortune, Việt Nam có 76 doanh nghiệp, trong đó có Petro Việt Nam (xếp thứ 11), Petrolimex (xếp thứ 26) và 4 ngân hàng nhà nước gồm BIDV, Agribank, Vietcombank, Vietinbank.
Giáo sư, Tiến sĩ Mạc Quốc Anh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội nhận định: “Những năm gần đây, doanh nghiệp nhà nước lớn mạnh, góp mặt trong bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp Đông Nam Á nhưng con số này còn khá khiêm tốn so với các nước trong khu vực như Indonesia, Thái Lan... đồng thời cũng cần nỗ lực nhiều hơn nữa để có 50 doanh nghiệp nhà nước được xếp hạng”.
Mục tiêu cho ngân hàng thương mại nhà nước
Nghị quyết 79 đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản; phát triển 4 ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu về công nghệ, quản trị, chủ lực về quy mô, thị phần và khả năng điều tiết thị trường. Hiện Việt Nam chưa có đại diện nào trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á.
Theo Hiệp hội Ngân hàng, tính đến ngày 31/12/2025, BIDV tiếp tục giữ vị trí ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất Việt Nam với 3,25 triệu tỷ đồng (khoảng 123 tỷ USD), tăng 20% so với năm trước. Theo The Asian Banker, thứ hạng ngân hàng Việt Nam tại châu Á liên tục tăng: BIDV ở vị trí 101, VietinBank 115, Agribank 123, Vietcombank 129, so với năm 2024 lần lượt là 107, 124, 125, 138.
Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng, nhận định các ngân hàng thương mại nhà nước có tổng tài sản tăng trưởng mạnh và có nhiều cơ hội tiến sát nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng trong Top 100 cũng tăng trưởng đều đặn 5-8% mỗi năm, vì vậy để đạt mục tiêu, các ngân hàng Việt Nam phải tăng trưởng trên 10%, trong điều kiện thuận lợi có thể đạt 15%.
Sứ mệnh dẫn dắt và kiến tạo hệ sinh thái
Nghị quyết 79 chỉ rõ doanh nghiệp nhà nước phải “giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào một số chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược”. Tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết 79 và 80, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Kinh tế nhà nước mạnh không phải để lấn át, mà trở thành “bệ đỡ”, “mở đường” và “tiếp sức” để doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa, từ đó hình thành những cụm liên kết ngành với những “đầu tàu” đủ sức cạnh tranh khu vực và toàn cầu”.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định: “Đặc điểm thứ hai của 'sếu đầu đàn' là doanh nghiệp nhà nước phải đóng vai trò dẫn dắt trong các lĩnh vực tiên phong, mũi nhọn. Thí dụ như trong các lĩnh vực công nghệ nền tảng, nền tảng số, hay các nguồn năng lượng mới. Khi đã tiên phong, doanh nghiệp sẽ tạo ra một hệ sinh thái hoặc chuỗi cung ứng để thu hút các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân cùng tham gia”.
Giáo sư Mạc Quốc Anh cho biết, thực tế liên kết hiện chỉ khoảng 18% doanh nghiệp ở Việt Nam có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu và doanh nghiệp tư nhân tham gia chuỗi FDI mới trên 20%. Về công nghiệp hỗ trợ, Việt Nam có khoảng 5.000 doanh nghiệp, nhưng tỷ lệ nội địa hóa vẫn thấp: điện tử chỉ khoảng 5-10%, ô tô khoảng 7-10%, dệt may và da giày khoảng 45-50%. Doanh nghiệp nội địa chủ yếu tham gia khâu đơn giản, giá trị gia tăng thấp; các khâu thiết kế, vật liệu cốt lõi, linh kiện công nghệ cao, tiêu chuẩn quản trị chuỗi vẫn chưa hình thành hệ sinh thái nội địa đủ mạnh.
Ông Mạc Quốc Anh nhận định: “Dư địa để doanh nghiệp nhà nước làm tốt hơn vai trò 'mở đường' vẫn còn rất lớn. Nếu doanh nghiệp nhà nước trở thành bên đặt hàng chiến lược, bên bảo chứng tiêu chuẩn, bên chia sẻ dữ liệu cung ứng và bên dẫn dắt công nghệ cho doanh nghiệp nội địa, thì sức lan tỏa sẽ rất lớn”.
Đột phá quy mô vốn và nguồn lực cho “sếu đầu đàn”
Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nhận định: “Để doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò dẫn dắt thì phải được trao quyền tự chủ thực chất từ huy động nguồn lực, tổ chức sản xuất kinh doanh đến thu hút nhân lực chất lượng cao… Quan trọng hơn, doanh nghiệp phải được hưởng thành quả từ những kết quả tạo ra”.
Bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính cho biết, doanh nghiệp hiện đã được tự quyết quỹ lương, tỷ lệ trích thưởng từ phần lợi nhuận vượt kế hoạch dự kiến đề xuất ở mức khoảng 5-10%. Đồng thời, các khoản đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo hoặc nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao được tách riêng khi đánh giá hiệu quả doanh nghiệp, tạo điều kiện để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư và đổi mới sáng tạo.
Nghị quyết 79 tạo hành lang pháp lý thông thoáng để phát triển doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, trọng tâm là chiến lược tăng vốn điều lệ: cho phép sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa và thoái vốn; nâng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế được giữ lại; rà soát, đánh giá lại tài sản đã hết khấu hao nhưng còn giá trị sử dụng. Nhà nước cũng khuyến khích hợp nhất, sáp nhập và chuyển giao doanh nghiệp để tối ưu hóa lợi thế tổng thể.
Một vấn đề quan trọng là chuyển đổi mô hình Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) thành Quỹ đầu tư quốc gia chuyên nghiệp. Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt lý giải: “Quỹ đầu tư quốc gia này cùng với các tài sản doanh nghiệp nhà nước được giao phó một cách minh bạch sẽ được phép tham gia vào các hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A), liên doanh liên kết, chuyển giao công nghệ mới và mua sắm công nghệ hiện đại. Từ đó, doanh nghiệp nhà nước thực hiện tốt vai trò dẫn dắt, tiên phong trong các ngành công nghiệp chủ đạo, công nghiệp nền tảng và các lĩnh vực mới của nền kinh tế; đồng thời phát triển hệ thống hạ tầng chiến lược nhằm đảm bảo mục tiêu lâu dài của đất nước”.
Ông Nguyễn Chí Thành, Chủ tịch Hội đồng thành viên SCIC, cho biết SCIC hiện quản lý hơn 100 doanh nghiệp, tổng giá trị thị trường ước tính khoảng 8 tỷ USD. Việc cơ cấu lại vốn nhà nước theo Nghị quyết 79 là động lực quan trọng để SCIC nâng cao vai trò, vị thế trong hệ thống các công cụ kinh tế của Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Xây dựng hệ sinh thái gắn kết giữa các doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước muốn làm “sếu đầu đàn” không thể đơn độc, mà phải dẫn dắt, mở đường và đồng hành cùng doanh nghiệp tư nhân. Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung cho rằng cần xây dựng chuỗi giá trị của chính Việt Nam, trong đó doanh nghiệp nhà nước phải tiên phong, thể hiện năng lực làm chủ khoa học, công nghệ và giữ vị trí trung tâm trong chuỗi giá trị. Doanh nghiệp phải chấp nhận đầu tư lớn vào nghiên cứu, tiếp thu công nghệ, đổi mới sáng tạo và từng bước làm chủ công nghệ lõi.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt khuyến nghị: “Thậm chí, cần có cơ chế đặt hàng để doanh nghiệp tư nhân tham gia vào chuỗi cung ứng. Ngay cả trong các lĩnh vực nền tảng mũi nhọn hay hạ tầng chiến lược cũng nên cho phép tư nhân tham gia. Ví dụ như trong lĩnh vực dịch vụ công - một mảng thể hiện rõ vai trò kinh tế của Nhà nước - chúng ta cũng nên quy hoạch lại và thực hiện đặt hàng để cả khu vực kinh tế nhà nước lẫn tư nhân cùng tham gia”.
Giáo sư Mạc Quốc Anh khuyến nghị cần có chương trình phát triển nhà cung ứng nội địa do doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt theo từng ngành. Mỗi tập đoàn, tổng công ty nhà nước nên có danh mục sản phẩm, linh kiện, dịch vụ có thể nội địa hóa; công bố lộ trình thay thế nhập khẩu; tổ chức đánh giá, lựa chọn và “ươm tạo” nhà cung cấp nội địa theo chuẩn chất lượng - chi phí - giao hàng. Đồng thời, cải cách cơ chế mua sắm, đấu thầu và đặt hàng theo hướng khuyến khích nhà cung ứng trong nước đủ chuẩn, chia nhỏ gói thầu phù hợp, có hợp đồng khung trung hạn, có tiêu chí cộng điểm cho nội địa hóa, có cơ chế thử nghiệm sản phẩm mới và thời gian “nâng chuẩn” cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiềm năng.
Ông Mạc Quốc Anh lưu ý việc chuẩn hóa dữ liệu và tiêu chuẩn nhà cung ứng: cần một nền tảng số quốc gia hoặc theo ngành, công khai danh mục nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, yêu cầu QCD (quality-cost-delivery), tiêu chí ESG, tiêu chí truy xuất nguồn gốc, cùng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng Việt Nam bằng tiếng Việt và tiếng Anh để doanh nghiệp chủ động tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, kết nối trực tiếp với đối tác quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt cũng nhấn mạnh sự phối hợp giữa vai trò kinh tế nhà nước với các chương trình tạo cực tăng trưởng và các địa phương có cơ chế đặc thù: “Ở góc nhìn tổng thể, không thể để doanh nghiệp nhà nước hoạt động tách rời với sự phát triển của các địa phương. Bởi lẽ, địa phương chính là không gian sinh tồn, là địa bàn hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng, nơi tập trung các hạ tầng chiến lược đã được giao cho doanh nghiệp nhà nước quản lý”. Khi có sự phối hợp đồng bộ, các nguồn lực sẽ không bị xé lẻ, manh mún mà tạo ra hiệu quả chung. Do đó, khi thiết kế các cực tăng trưởng hay cơ chế phân cấp, phân quyền đặc thù cho địa phương, cần phải tính đến việc phát huy vai trò “sếu đầu đàn” của doanh nghiệp nhà nước tại đó, bất kể là doanh nghiệp do Trung ương hay địa phương quản lý.
Hành trình đưa doanh nghiệp nhà nước vươn tầm quốc tế không thể tách rời vai trò “mở đường” và kết nối nội địa. Với hành lang pháp lý từ Nghị quyết 79 cùng sự chuyển đổi mạnh mẽ của các công cụ điều tiết như mô hình Quỹ đầu tư quốc gia, Việt Nam đang kỳ vọng tạo ra những cực tăng trưởng mới. Sự phối hợp giữa vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước và sức sáng tạo của khu vực tư nhân được thực thi nhuần nhuyễn sẽ tạo ra động lực then chốt để nền kinh tế Việt Nam bứt phá và phát triển bền vững trên bản đồ kinh tế thế giới.



