Điều chỉnh mục tiêu GDP 2026-2030: Tăng huy động ngân sách lên 18%, bội chi 5%
Điều chỉnh mục tiêu GDP 2026-2030: Tăng huy động ngân sách lên 18%

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1119/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số mục tiêu, chỉ tiêu liên quan tới GDP trong giai đoạn 2026-2030. Theo đó, tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước được điều chỉnh tăng lên 18% GDP, cùng với các giải pháp bảo đảm đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm.

Điều chỉnh các chỉ tiêu tài chính quan trọng

Cụ thể, Quyết định số 1119/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung điểm a,b,c và đ khoản 3 mục I Điều 1 Quyết định số 368/QĐ-TTg về mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể trong Chiến lược tài chính đến năm 2030. Mục tiêu huy động ngân sách giai đoạn 2026-2030 tăng thêm 1-2 điểm % GDP, từ khoảng 16-17% lên 18%. Đồng thời, tỷ trọng thu nội địa được nâng từ 86-87% lên 87-88%.

Cơ cấu chi ngân sách được nêu chi tiết hơn với mục tiêu chi đầu tư phát triển đạt khoảng 40% tổng chi ngân sách nhà nước, chi thường xuyên khoảng 51-52%. Mức bội chi ngân sách đến năm 2030 được điều chỉnh từ khoảng 3% GDP lên khoảng 5% GDP, và trần nợ nước ngoài của quốc gia tăng từ 45% lên 50% GDP.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Bổ sung mục tiêu về doanh nghiệp nhà nước và xã hội hóa

Quyết định số 1119/QĐ-TTg bổ sung các mục tiêu đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công, tinh gọn đầu mối, chỉ duy trì các đơn vị thực hiện nhiệm vụ chính trị và dịch vụ công thiết yếu. Đối với doanh nghiệp nhà nước, mục tiêu cụ thể là có 50 doanh nghiệp lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới vào năm 2030.

Giải pháp thực hiện tăng trưởng GDP 10%/năm

Quyết định cũng bổ sung các giải pháp tại mục III của Điều 1 Quyết định số 368/QĐ-TTg nhằm thực hiện mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên. Các giải pháp tập trung vào hoàn thiện thể chế phát triển, xóa bỏ rào cản, điểm nghẽn để giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực; thực hiện cuộc cách mạng về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đồng thời bảo đảm các yếu tố nền tảng cho tăng trưởng "hai con số" giai đoạn 2026-2030 và tiếp tục tăng trưởng nhanh, bền vững đến năm 2045.

Quyết định nhấn mạnh việc xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển. Trong đó, xác định khẩn trương tháo gỡ căn bản các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách.

Cải cách thủ tục hành chính và môi trường đầu tư

Tập trung rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan phát triển nền kinh tế số (nhất là công nghệ tài chính, tài sản số, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử, các ngành công nghệ mới...), đầu tư kinh doanh... góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; chuẩn hóa, số hóa toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục trên môi trường số, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan; rút ngắn tối đa thời gian, chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp. Phấn đấu môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Phối hợp chính sách và nâng xếp hạng tín nhiệm

Quyết định cũng đề cập tới việc phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, linh hoạt giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác để thực hiện mục tiêu tăng trưởng "2 con số" gắn với kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; chủ động ứng phó hiệu quả với những biến động bên ngoài, kiên quyết không để xảy ra khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống; phát huy cao nhất các nguồn nội lực, bám sát mục tiêu tăng trưởng "hai con số".

Đặc biệt, triển khai các giải pháp để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia; ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để phát huy hiệu quả hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do trong việc thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp, các quỹ đầu tư quốc tế; phát triển thị trường tín chỉ carbon và các sản phẩm, dịch vụ tài chính hiện đại theo thông lệ quốc tế; điều chỉnh hạn mức bảo lãnh phát hành trái phiếu của ngân hàng chính sách xã hội. Mở rộng tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại các ngành nghề không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Song song là tận dụng nguồn lực từ kiều hối, đầu tư của Việt kiều, hợp tác tài chính để kết nối nguồn vốn trí tuệ và tài chính của cộng đồng người Việt ở nước ngoài vào phát triển đất nước.