Nuôi sò huyết dưới tán rừng: Hướng phát triển bền vững cho người dân An Giang
Nuôi sò huyết dưới tán rừng: Hướng phát triển bền vững

Mô hình nuôi sò huyết tự nhiên dưới tán rừng đã và đang mở ra hướng phát triển sinh kế bền vững cho người dân An Giang, gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ rừng và phát triển kinh tế ven biển. Nhờ mô hình này, nhiều hộ gia đình đã cải thiện đời sống và góp phần giữ gìn hệ sinh thái rừng ngập mặn.

Giữ rừng từ con sò huyết

Buổi sáng ở ấp Xẻo Bần A, xã Tân Thạnh, tỉnh An Giang, ông Nguyễn Văn Hái chèo xuồng len lỏi qua những hàng đước cao vút để thăm vuông sò rộng gần 3 ha của gia đình. Người đàn ông gắn bó cả đời với rừng biển trước đây có cuộc sống bấp bênh vì con nước thất thường, nuôi thủy sản liên tục thua lỗ. Vài năm gần đây, sò huyết đã giúp gia đình ông đổi đời.

"Tôi có gần 3 ha rừng. Năm rồi thu hoạch sò huyết lợi nhuận cũng được 200 - 300 triệu đồng. Ở vùng rừng phòng hộ này, nhờ nuôi được con sò huyết nên kinh tế phát triển hơn nhiều", ông Hái chia sẻ.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Không riêng gia đình ông Hái, nhiều hộ dân ven biển ở 2 xã Tân Thạnh và Đông Thái cũng xem sò huyết là nguồn thu nhập chủ lực. Ông Lê Văn Tuân, ngụ ấp 7 Biển, xã Đông Thái cho biết, với gần 1,6 ha vuông nuôi sò huyết dưới tán rừng, mỗi năm gia đình thu hoạch khoảng 2,5 đến 3 tấn sò thương phẩm.

"Thức ăn cho sò huyết chủ yếu là mùn bã hữu cơ và sinh vật phù du nên chủ yếu tốn tiền đầu tư giống. Sau khi trừ chi phí con giống, chế phẩm xử lý nước thì khoảng 1,6 ha vuông của gia đình tôi cho lợi nhuận khoảng 150 - 200 triệu đồng/năm. Nhờ con sò huyết mà cuộc sống gia đình ổn định hơn", ông Tuân nói.

Ở vùng ven biển An Giang hiện có gần 8.400 ha rừng phòng hộ ven biển, trong đó hơn 3.100 ha đất rừng ngập mặn phục vụ nuôi trồng thủy sản. Suốt nhiều năm, người dân nơi đây sống nhờ các mô hình nuôi xen canh dưới tán rừng; trong đó, nuôi sò huyết vẫn được xem là mô hình mang lại giá trị kinh tế cao nhất.

Vượt qua những vụ sò mất trắng

Tuy nhiên, để có được những vụ mùa bội thu như hiện tại, nông dân vùng biển An Giang cũng đã phải trải qua cả một hành trình dài vượt khó. Khoảng hơn 10 năm trước, nghề nuôi sò huyết ở vùng miệt Thứ từng rơi vào giai đoạn lao đao. Biến đổi khí hậu khiến độ mặn thay đổi thất thường, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, trong khi kỹ thuật nuôi của người dân còn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm truyền thống. Năng suất sò huyết giảm mạnh, chỉ còn khoảng 1,7 đến 2,2 tấn/ha, thấp hơn 30 - 50% so với thời điểm trước năm 2010, có những vụ người nuôi gần như mất trắng.

Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang từng ghi nhận, trong giai đoạn 2015 - 2018, nhiều hộ nuôi sò huyết rơi vào cảnh trắng tay vì sò chết hàng loạt, nguyên nhân đến từ tập quán nuôi cũ. Trước đây, để xử lý môi trường hoặc tạo thức ăn tự nhiên cho sò, người dân thường sử dụng các loại hóa chất để xử lý nước. Việc này vô tình làm môi trường nước bị ô nhiễm, sò bị sốc và tỷ lệ sống của sò trong vuông rất thấp. Trong khi đó, mô hình nuôi dưới tán rừng phòng hộ không cho phép nạo vét ao nuôi. Qua nhiều năm, lá cây rụng, chất hữu cơ và độc tố tích tụ dưới đáy ao gây ô nhiễm nghiêm trọng.

"Hồi đó bà con nuôi theo kiểu truyền thống, thả giống nhiều đợt và dùng giải pháp hóa học để gây thức ăn tự nhiên cho sò. Chất hữu cơ tích tụ lâu ngày dưới nền đáy ao làm môi trường suy thoái. Bà con lại phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước tự nhiên nên khi độ mặn thay đổi đột ngột, sò rất dễ bị hao hụt", thạc sĩ Nguyễn Ngọc Toản, Phó phòng Khuyến ngư - Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang, cho biết.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Áp lực mưu sinh khiến không ít hộ dân tìm cách mở rộng mặt nước nuôi trồng, tác động đến diện tích rừng ngập mặn ven biển. Bài toán đặt ra lúc đó là phải tìm được mô hình vừa nâng cao thu nhập cho người dân, vừa bảo vệ hệ sinh thái rừng phòng hộ.

"Cuộc cách mạng" trong vuông sò

Từ thực tế ở địa phương, Trung tâm Khuyến nông tỉnh An Giang phối hợp với Trung tâm Khuyến nông quốc gia triển khai dự án "Xây dựng mô hình nuôi sò huyết dưới tán rừng phòng hộ ven biển tại tỉnh Kiên Giang" (nay là An Giang) giai đoạn 2023 - 2025.

Điểm khác biệt lớn nhất của mô hình là thay thế dần hóa chất người dân thường dùng bằng chế phẩm vi sinh để xử lý môi trường; đồng thời tăng nguồn thức ăn hữu cơ tự nhiên cho sò huyết phát triển. Người dân tham gia dự án còn được tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn kiểm tra các chỉ số môi trường, ghi chép nhật ký sản xuất và theo dõi tốc độ tăng trưởng của sò theo từng giai đoạn.

Theo thạc sĩ Nguyễn Ngọc Toản, mục tiêu ban đầu của dự án là nâng năng suất sò huyết lên mức từ 4 tấn/ha trở lên. Song song đó là xây dựng chuỗi liên kết từ con giống đến tiêu thụ sản phẩm. "Khi triển khai dự án, chúng tôi phối hợp với Tổ khuyến nông cộng đồng để liên kết cung cấp giống và tiêu thụ đầu ra cho bà con. Mục tiêu là có khoảng 90% sản phẩm sò huyết được kết nối tiêu thụ ổn định", ông Toản nói.

Các hộ tham gia dự án được hỗ trợ 40% con giống và 50% vật tư, chế phẩm sinh học. Sò giống được thả đồng loạt theo lịch thời vụ với mật độ 100 con/m², cao hơn cách nuôi truyền thống từ 30 - 50 con/m². Quan trọng hơn, dự án giúp người dân bắt đầu thay đổi tư duy sản xuất. Thay vì mở rộng diện tích nuôi bằng cách tác động vào rừng, họ tập trung ứng dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất trên cùng diện tích.

Kết quả mang lại từ mô hình khiến nhiều người bất ngờ. Năm 2023, 10 hộ dân ở xã Tân Thạnh tham gia mô hình đạt năng suất trung bình 4,83 tấn/ha, cao hơn ngoài mô hình hơn 2 tấn/ha. Lợi nhuận trung bình đạt khoảng 287 triệu đồng/ha, cao hơn phương thức nuôi truyền thống khoảng 142 triệu đồng/ha. Đến năm 2024, dù điều kiện thời tiết thất thường nhưng năng suất trung bình của các hộ dân tham gia dự án vẫn đạt 4,57 tấn/ha, lợi nhuận khoảng 202 triệu đồng/ha. Riêng năm 2025, mô hình triển khai tại 2 xã Tân Thạnh và Đông Thái ghi nhận tỷ lệ sò sống đạt tới 93,6%. Các chỉ số môi trường trong vuông nuôi ổn định hơn nhờ sử dụng định kỳ chế phẩm vi sinh.

"Qua khảo sát thực tế, năng suất mô hình cao gấp 2 đến 2,5 lần so với hộ nuôi bình thường bên ngoài. Hiện nay năng suất đạt khoảng 5 tấn/ha, kích cỡ sò thương phẩm khoảng 100 con/kg. Sau khi trừ chi phí, bà con lợi nhuận trung bình 170 - 220 triệu đồng/ha", thạc sĩ Nguyễn Ngọc Toản thông tin.

Giữ rừng để giữ sinh kế

Điều đáng mừng là mô hình không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn giúp thay đổi nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường. Nếu như trước đây nhiều hộ phụ thuộc vào hóa chất thì nay phần lớn đã chuyển sang sử dụng chế phẩm sinh học. Các vuông nuôi sò dưới tán rừng dần trở thành hệ sinh thái cân bằng, hạn chế ô nhiễm nguồn nước.

Một tín hiệu tích cực khác là từ tháng 4.2025, sản phẩm sò huyết của các hộ tham gia dự án tại xã Tân Thạnh đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao và được ký kết tiêu thụ ổn định. Điều đó mở ra cơ hội xây dựng thương hiệu sò huyết An Giang theo hướng sạch, an toàn và bền vững.

Giữa màu xanh bạt ngàn của rừng phòng hộ ven biển miệt Thứ An Giang, những vuông sò hôm nay chính là minh chứng cho cách làm kinh tế hài hòa với thiên nhiên. Sau nhiều năm vật lộn với thiên tai và dịch bệnh, người dân nơi đây đang dần tìm được con đường làm giàu từ chính những cánh rừng mà họ gìn giữ mỗi ngày.