Bộ Nông nghiệp và Môi trường giải đáp kiến nghị cử tri về chương trình mục tiêu quốc gia
Bộ Nông nghiệp giải đáp kiến nghị cử tri về chương trình mục tiêu

Bộ Nông nghiệp và Môi trường phản hồi kiến nghị cử tri về chương trình mục tiêu quốc gia

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa có văn bản số 1687/BNNMT-VPĐP trả lời kiến nghị của cử tri gửi tới sau Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. Kiến nghị này xuất phát từ cử tri tỉnh Lạng Sơn, được Văn phòng Chính phủ chuyển đến thông qua Văn bản số 969/VPCP-QHĐP ngày 29/1/2026.

Nội dung kiến nghị và phản hồi chi tiết

Cử tri tỉnh Lạng Sơn đã đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cùng với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, phối hợp rà soát và đồng bộ hóa các nội dung, đối tượng thực hiện giữa các chương trình mục tiêu quốc gia. Mục tiêu là tránh tình trạng cùng một nội dung được triển khai trên địa bàn nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhưng mỗi chương trình lại có quy định khác nhau hoặc xảy ra sự trùng lặp về nội dung và đối tượng thụ hưởng chính sách.

Về vấn đề này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã báo cáo chi tiết đến Đoàn đại biểu Quốc hội và cử tri tỉnh Lạng Sơn. Để quản lý thống nhất, hiệu quả, thực chất và bền vững, đồng thời khắc phục tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn lực, và trùng lặp trong các chương trình mục tiêu quốc gia như Xây dựng nông thôn mới, Giảm nghèo bền vững, và Phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo cụ thể.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Chương trình mục tiêu quốc gia mới giai đoạn 2026-2035

Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì, phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, cùng các bộ, cơ quan trung ương liên quan, nghiên cứu xây dựng và trình Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinhế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035. Chương trình này đã được phê duyệt thông qua Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội.

Căn cứ vào Nghị quyết số 257/2025/QH15 và Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30/12/2025 của Chính phủ về kế hoạch triển khai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo và các cơ quan liên quan xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia cho giai đoạn 2026-2035, với giai đoạn I từ năm 2026 đến 2030. Chương trình này đã được phê duyệt tại Quyết định số 417/QĐ-BNNMT ngày 31/1/2026 của Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường.

Cấu trúc và nội dung của chương trình

Chương trình được kết cấu thành hai hợp phần chính:

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình
  • Hợp phần thứ nhất: Bao gồm các nội dung chung thực hiện trên địa bàn cả nước, với 10 nội dung thành phần và 52 nội dung cụ thể. Hợp phần này chỉ thực hiện tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đối với những nội dung mà Hợp phần thứ hai không quy định, nhằm đạt được các mục tiêu và chỉ tiêu của Chương trình.
  • Hợp phần thứ hai: Tập trung vào các nội dung đặc thù phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, gồm 5 nội dung thành phần và 23 nội dung cụ thể. Hợp phần này chỉ thực hiện ngoài vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đối với những nội dung mang tính đặc thù của ngành công tác dân tộc và không quy định trong Hợp phần thứ nhất.

Quá trình rà soát và phối hợp

Trong quá trình xây dựng Chương trình, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, cùng các bộ liên quan như Bộ Y tế, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch, và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Mục tiêu là rà soát toàn bộ các nội dung và hoạt động để tránh sự chồng chéo và trùng lặp với các chương trình mục tiêu quốc gia khác.

Như vậy, Chương trình mới đã được ban hành và triển khai thống nhất trên địa bàn cả nước, khắc phục được những vướng mắc và bất cập từ giai đoạn 2021-2025, đặc biệt là tình trạng trùng lặp và chồng chéo về nội dung và đối tượng thụ hưởng chính sách. Chương trình tập trung ưu tiên cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo, đảm bảo tính hiệu quả và bền vững trong phát triển.