Niềm tin hiện là vấn đề lớn đối với khu vực tư nhân, mang tính quyết định trước mỗi quyết định gia nhập thị trường hay mở rộng đầu tư. Để có khu vực kinh tế tư nhân đủ mạnh và đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, cần gia cố niềm tin thị trường thông qua những nỗ lực cải cách mạnh mẽ môi trường kinh doanh, đi kèm cơ chế theo dõi, giám sát và đánh giá độc lập.
Đổi mới mô hình tăng trưởng để tạo động lực mới
Trong bối cảnh địa chính trị thế giới diễn biến phức tạp, Việt Nam kiên định mục tiêu tăng trưởng hai con số và nỗ lực đổi mới để tạo đột phá. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, điều kiện tiên quyết là phải đổi mới mô hình tăng trưởng. Thực tế chứng minh, tăng trưởng cao không thể dựa mãi vào mở rộng tín dụng, kích cầu bằng tiền hay đẩy vốn vào những khu vực tạo tăng trưởng bề nổi.
Muốn tăng trưởng nhanh mà vẫn bền vững, phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh; lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, đúng như tinh thần các nghị quyết quan trọng của Đảng và Nhà nước. Khi doanh nghiệp và người dân có thể cảm nhận rõ thể chế kinh tế đang được đổi mới, động lực tăng trưởng gia tăng, nguồn lực được huy động và phân bổ hiệu quả, niềm tin sẽ được vun bồi thông qua các quyết định đầu tư của khối dân doanh.
Chỉ số niềm tin qua số lượng doanh nghiệp
Một trong những chỉ số phản ánh niềm tin xã hội là số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Theo thống kê, đến hết ngày 18/5/2026, cả nước có hơn 1,062 triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Đây được coi là tác động bước đầu của Nghị quyết số 68-NQ/TW trong củng cố niềm tin, khơi thông động lực kinh doanh và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân chuyển dịch từ trạng thái thích ứng để tồn tại sang trạng thái có khát vọng vươn lên.
Việc xác định "kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia" sẽ kích hoạt được "ngọn lửa kinh doanh". Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả triển khai các nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân phải dựa trên kết quả thực chất, thay vì các báo cáo hình thức. Với mục tiêu tăng gấp đôi số doanh nghiệp lên 2 triệu vào năm 2030, nền kinh tế cần tăng bình quân 200.000 doanh nghiệp/năm – một thách thức không nhỏ khi tỷ lệ doanh nghiệp gia nhập và quay lại so với số rút lui đang giảm dần.
Thách thức từ tỷ lệ doanh nghiệp rút lui
Nếu giai đoạn trước, cứ một doanh nghiệp rời thị trường có thể có khoảng hai doanh nghiệp gia nhập hoặc quay lại, thì từ năm 2021 đến nay tỷ lệ này gần như chỉ còn xấp xỉ một đổi một (1-1). Điều đáng quan ngại là số doanh nghiệp rút lui ít được nhìn nhận tương xứng. Nếu không có cơ chế theo dõi độc lập, nghiêm túc và thường xuyên, mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp dễ bị biến thành chỉ tiêu hành chính.
Khoa học công nghệ là động lực tăng trưởng chính
Việt Nam xác định "phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia" là "đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính" của tăng trưởng. Dư địa tăng trưởng lớn nhất không nằm ở tăng vốn hay lao động, mà ở tăng năng suất thông qua khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Tuy nhiên, nguồn lực vẫn chưa chảy mạnh vào các lĩnh vực này. Cần có cơ chế đủ mạnh để tạo dòng vốn đầu tư lớn cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đồng thời có cơ chế thử nghiệm, chấp nhận rủi ro có kiểm soát.
Cải cách môi trường đầu tư và cắt giảm điều kiện kinh doanh
Để phát triển khu vực kinh tế tư nhân, cải cách môi trường đầu tư kinh doanh và cắt giảm danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện là trọng tâm. Sau một năm thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, tác động tích cực bước đầu thể hiện qua sự gia tăng số doanh nghiệp gia nhập, tái gia nhập thị trường; diễn biến tích cực trên thị trường chứng khoán; sự khởi sắc của xuất nhập khẩu và đóng góp lớn hơn của khu vực tư nhân vào thu ngân sách.
Chính phủ đã triển khai một nhịp độ cải cách chưa từng có, ban hành tám Nghị quyết về cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh. Các bộ, cơ quan đề xuất cắt giảm 1.732 điều kiện kinh doanh không cần thiết; bãi bỏ 680 thủ tục hành chính; đơn giản hóa 521 thủ tục hành chính. Chi phí tuân thủ thủ tục hành chính được đề xuất cắt giảm ước tính hơn 23.000 tỷ đồng/năm.
Đánh giá thực chất và giám sát độc lập
Việc ban hành văn bản chưa phản ánh thực chất cải cách; cần đi đến cùng xem bao nhiêu văn bản đi vào cuộc sống. Nhiều nghị quyết mang tính chương trình hành động chung chung, không có cơ chế theo dõi, không lượng hóa kết quả. Việc đánh giá thường do chính các bộ, ngành thực hiện nên kết quả thường là "đánh giá tốt". Cần có cơ chế theo dõi, giám sát đến cùng để kịp thời điều chỉnh.
Trong xây dựng văn bản pháp luật, nếu chỉ tập trung cắt giảm ở luật mà quy định chi tiết vẫn giữ nguyên, cải cách sẽ không có tác dụng. Hiện tượng luật chung nhưng luật chuyên ngành bổ sung điều kiện khác tồn tại lâu nay, gần như không có cơ chế giám sát. Cần đặt ra nguyên tắc rõ ràng: các luật chuyên ngành không được bổ sung điều kiện kinh doanh ngoài danh mục đã quy định.
Phương pháp luận phân loại ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Danh mục hơn 200 ngành nghề kinh doanh có điều kiện hiện nay chưa có logic phân loại rõ ràng. Ví dụ, ngành rộng như kinh doanh thủy sản, hóa chất được đưa vào, trong khi nội dung hẹp như cấp chứng chỉ thiết kế cũng được xếp là ngành nghề có điều kiện. Cần xây dựng phương pháp luận khoa học để phân loại, xác định ngành nào cần quản lý, ngành nào không, và quản lý theo hướng tiền kiểm hay hậu kiểm. Nếu làm nghiêm túc, số lượng ngành nghề có điều kiện có thể giảm xuống còn vài chục ngành, đúng với tinh thần quyền tự do kinh doanh trong Hiến pháp.
Khi cải cách tạo ra tác động tích cực trong thực tế, cộng đồng doanh nghiệp mới xem sự nghiệp của mình là một phần của hành trình phát triển đất nước, vì lợi ích quốc gia và dân tộc, để Việt Nam có tiềm lực hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.



