Thực trạng du lịch y tế Việt Nam
Du lịch y tế đang trở thành một ngành kinh tế trị giá hàng trăm tỷ USD, thu hút sự cạnh tranh của nhiều quốc gia. Không chỉ dừng lại ở chi phí điều trị hay tay nghề bác sĩ, điểm đến hấp dẫn còn cần một hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe đồng bộ: từ bệnh viện, dịch vụ phục hồi, bảo hiểm, hàng không, nghỉ dưỡng đến an toàn cộng đồng. Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế như kỹ thuật y khoa tiệm cận khu vực, chi phí cạnh tranh, thời gian chờ ngắn và ngày càng nhiều bệnh viện thu hút bệnh nhân quốc tế. Tuy nhiên, khoảng cách giữa năng lực điều trị và phát triển dịch vụ du lịch y tế còn lớn. Hiện chỉ một số ít cơ sở chủ động xây dựng mô hình phục vụ bệnh nhân quốc tế, trong khi phần lớn hệ thống y tế vẫn vận hành theo mô hình truyền thống.
Những điểm nghẽn cần tháo gỡ
Theo Tiến sĩ Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), du lịch y tế tại Việt Nam đối mặt với nhiều điểm nghẽn mang tính hệ thống. Điểm yếu lớn nhất là thiếu sự điều phối giữa Y tế và Du lịch. Việt Nam chưa có đầu mối điều phối quốc gia về du lịch y tế; sự phối hợp giữa các bộ ngành còn rời rạc. Công tác thống kê, nghiên cứu thị trường yếu, khiến hoạch định chính sách thiếu cơ sở thực tiễn. Chỉ số năng lực hạ tầng du lịch TTDI 2024 xếp hạng 80/119 quốc gia, cho thấy khoảng cách đáng kể với các nước dẫn đầu khu vực.
Bên cạnh đó, Việt Nam chưa có khung pháp lý chuyên biệt cho du lịch y tế. Các quy định còn phân tán, chưa có chính sách thị thực y tế riêng cho các trường hợp điều trị dài ngày. Cơ chế giá dịch vụ cho người nước ngoài tại bệnh viện công thiếu linh hoạt. Việt Nam chưa có bộ tiêu chí thống nhất để công nhận cơ sở y tế đủ điều kiện cung cấp dịch vụ du lịch y tế, khiến thị trường thiếu chuẩn hóa. Các cơ chế về tranh chấp y khoa có yếu tố nước ngoài và bảo vệ dữ liệu người bệnh quốc tế chưa hoàn thiện.
Dù có nhiều kỹ thuật chuyên sâu, các cơ sở y tế chưa xây dựng được hệ thống “gói dịch vụ du lịch y tế” chuẩn hóa. Dịch vụ còn manh mún, thiếu tích hợp giữa điều trị - lưu trú - nghỉ dưỡng - phục hồi chức năng. Một thí dụ điển hình là Bệnh viện Chợ Rẫy, cơ sở hạng đặc biệt với hơn 3.200 giường bệnh, dù đã có Trung tâm Dịch vụ quốc tế từ năm 2018, nhưng mỗi tháng chỉ tiếp nhận khoảng 15-20 bệnh nhân nước ngoài. Điều này cho thấy năng lực chuyên môn chưa được chuyển hóa thành sản phẩm dịch vụ cạnh tranh quốc tế do thiếu hệ thống tiếp thị, môi giới và phân phối bệnh nhân chuyên nghiệp.
Đội ngũ y bác sĩ có chuyên môn tốt nhưng nhân lực phục vụ du lịch y tế còn thiếu kỹ năng ngoại ngữ chuyên ngành, giao tiếp liên văn hóa. Việt Nam chưa có chức danh nghề nghiệp và chương trình đào tạo chính quy cho vị trí điều phối viên du lịch y tế. Một số chuyên khoa tuyến cuối đang quá tải, làm giảm khả năng phát triển dịch vụ theo yêu cầu cho khách quốc tế. Hiện Việt Nam mới chỉ có 1 bệnh viện công lập đạt chuẩn JCI, trong khi Thái Lan có hơn 60, Singapore khoảng 12 và Malaysia hơn 15. Việc đánh giá chất lượng độc lập và công bố dữ liệu cấp quốc gia chưa đồng bộ, khiến nhiều hãng bảo hiểm quốc tế chưa có cơ sở tin cậy để liên kết thanh toán.
Bài học từ các quốc gia thành công
Thông tin từ Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) ước tính mỗi năm có hàng triệu người Mỹ ra nước ngoài để tiếp cận dịch vụ y tế, tiết kiệm từ 40-90% chi phí. Dự báo doanh thu bảo hiểm y tế quốc tế có thể tăng từ gần 32 tỷ USD năm 2025 lên khoảng 40 tỷ USD vào năm 2030. Điểm khác biệt của các quốc gia thành công là khả năng biến dịch vụ y tế thành một hành trình hoàn chỉnh, kết nối bệnh viện, đơn vị điều phối, bảo hiểm, lưu trú, vận chuyển và du lịch.
Ông Đỗ Quang Ba, Chủ tịch Tổ chức Giao lưu quốc tế Việt Nam-Nhật Bản (FAVIJA), cho biết: “Điều tạo nên sức hút của Nhật Bản không chỉ nằm ở trình độ y học mà còn ở hệ sinh thái hỗ trợ bệnh nhân quốc tế.” Nhật Bản triển khai Medical Stay Visa từ năm 2011, với quy trình hỗ trợ từ tư vấn, phiên dịch, visa đến lưu trú và theo dõi sau điều trị. Thái Lan cấp Non-Immigrant O (Medical Treatment) cho điều trị trên 60 ngày, Ấn Độ triển khai Medical Visa (MED), Malaysia có cơ chế nhập cảnh kết hợp hệ thống điều phối bệnh nhân quốc tế. Trong khi đó, Việt Nam chủ yếu sử dụng thị thực thông thường, thiếu tính chuyên biệt.
Giải pháp phát triển bền vững
Doanh thu du lịch y tế tại Việt Nam năm 2025 đạt hơn 850 triệu USD, tốc độ tăng trưởng thường niên khoảng 18%, kỳ vọng chạm mốc 4 tỷ USD vào đầu thập kỷ tới (theo IMARC). Theo Phó Giáo sư Giannina Warren, Đại học RMIT Việt Nam, “Du lịch y tế không chỉ mang lại nguồn thu mà còn là công cụ gia tăng quyền lực mềm quốc gia.” Bà nhấn mạnh cần xây dựng chiến lược truyền thông đồng bộ, công khai chứng nhận quốc tế như JCI, kết quả điều trị, và tận dụng nền tảng số để tiếp cận bệnh nhân.
Một nguồn khách tiềm năng là cộng đồng khoảng 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, có nhu cầu về quê khám chữa bệnh với chi phí thấp hơn và không rào cản ngôn ngữ. Du lịch y tế cũng đã xuất hiện trong chương trình hợp tác cấp cao giữa Việt Nam và Ấn Độ, với Tuyên bố chung thúc đẩy phát triển du lịch y tế bền vững và hợp tác về chuyển đổi số y tế, AI, dược phẩm. Đại diện Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông James Peranteau, đánh giá Việt Nam là điểm đến an toàn, thân thiện, có tiềm năng phát triển du lịch chất lượng cao.
Các chuyên gia cho rằng cần có sự phối hợp đồng bộ giữa y tế, du lịch, ngoại giao và truyền thông trong xây dựng thương hiệu quốc gia, chuẩn hóa chất lượng và phát triển nhân lực đạt chuẩn quốc tế. Chỉ khi người Việt tin tưởng điều trị trong nước và người nước ngoài chủ động tìm đến, du lịch y tế mới thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.



