Sau gần 40 năm đổi mới, ngành công nghiệp vật liệu Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng, nhưng phần lớn sản xuất vẫn tập trung vào sản phẩm phổ thông, giá trị gia tăng thấp; tỷ lệ chế biến sâu các khoáng sản chiến lược như đất hiếm, titan, bauxite chưa cao. Thông tin được đưa ra tại hội thảo “Công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới” do Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội (KHCN&MT) phối hợp các cơ quan tổ chức ngày 15/6.
Thực trạng ngành đóng tàu và cơ khí
Tiến sĩ Phạm Hoài Chung, Chủ tịch HĐTV Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC), chỉ ra rằng các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ tham gia mạnh ở các khâu chế tạo thân vỏ, gia công kết cấu và lắp ráp sản phẩm. Các thiết bị công nghệ cao và vật liệu chuyên dụng, thường chiếm khoảng 50 đến 70% giá trị con tàu, vẫn chủ yếu phải nhập khẩu.
Ông Phan Đăng Phong, Viện trưởng Nghiên cứu cơ khí, Bộ Công thương, nhấn mạnh yêu cầu tự chủ vật liệu nền tảng, tập trung ưu tiên đầu tư sản xuất thép tấm, thép chuyên dùng cho đường sắt, đóng tàu và năng lượng để xây dựng chuỗi cung ứng tự cường.
Chiến lược chuyển từ khai thác thô sang chế biến sâu
Đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ nhìn nhận, Việt Nam có lợi thế về đất hiếm, bauxite, titan nhưng năng lực chế biến sâu còn hạn chế. Do đó, chiến lược thời gian tới cần chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên thô sang chế biến sâu, tập trung vào ba nhóm: vật liệu cơ bản, vật liệu chiến lược, vật liệu tương lai; sáu chuỗi trọng điểm gồm đất hiếm, pin lưu trữ/hydrogen, bán dẫn, thép đặc chủng, khoáng sản chiến lược và vật liệu sinh học.
Phát triển công nghiệp bán dẫn
Chủ nhiệm Ủy ban KHCN&MT Nguyễn Thanh Hải cho rằng, nền tảng sâu xa của ngành bán dẫn là năng lực làm chủ vật liệu và thiết bị công nghệ cao, vật liệu bán dẫn thế hệ mới, hóa chất điện tử siêu tinh khiết, vật liệu đóng góp sản xuất chip, vật liệu tản nhiệt hiệu năng cao, thiết bị phòng sạch và thiết bị sản xuất vật liệu bán dẫn. Đây là những lĩnh vực Việt Nam cần có chiến lược đầu tư dài hạn.



