Thế Giới Thơ Hữu Vi: Nỗi Thương Buồn Từ Tâm Hồn Người Trai Bản
Không chỉ bởi anh đang sống và sáng tác tại một bản người Thái xa xôi thuộc miền Tây xứ Nghệ, cụ thể là huyện miền núi Con Cuông, mà chủ yếu qua những tác phẩm của anh—từ truyện ngắn, ký, báo chí đến đặc biệt là thơ—người ta nhận ra điệu hồn đặc biệt của thi sĩ Hữu Vi. Thơ chính là nơi chưng cất tinh túy từ tâm hồn ấy, mang đến một cảm nhận đầu tiên: nỗi thương buồn dìu dịu, lan tỏa, tưởng nhẹ nhàng nhưng thấm sâu. Như sương sa bảng lảng rồi đọng thành hạt, hạt sương ấy khi rơi vào lòng người đọc đủ để gợi lên sự rùng mình.
Nỗi Thương Thân Và Khát Yêu Không Đáp Đền
Trong vai một người trai bản, tâm hồn Hữu Vi luôn ôm ấp một nỗi khát yêu mãnh liệt. Điều này không có gì lạ với tuổi đôi mươi, nhưng ở anh, nỗi khát ấy thường không được đáp đền, chỉ còn là mơ ước xa vời. Trong bài Anh sẽ về tháng Giêng hoa nở, anh viết: Mơ tháng giêng mùa hoa nở/ Dắt tay em qua cầu bạc, cầu vàng. Nỗi khát ấy mãi là tình đơn phương, đơn độc, tủi phận và kém may mắn, như trong Ngôi nhà nơi triền đồi cao: Có ngôi nhà nơi triền đồi cao/ Đông lạnh cửa khép hờ đợi nắng/ Bốn chú trai đợi nàng nón trắng/ Người đà khăn xếp làm dâu....
Đỉnh Cao Của Cảm Xúc Thất Tình: Bài Thơ "Tàn Lửa"
Trong dòng cảm xúc "thất tình", bài thơ Tàn lửa được xem là một đỉnh cao. Khung cảnh bản làng miền núi hiện lên qua hình ảnh chàng trai kiên nhẫn ngồi dưới cầu thang, đốt đuốc chờ người mình yêu. Nhưng người ấy vô tâm ngủ say, để lại sự im lặng tuyệt đối. Sáng ra, chàng trai dụi đuốc vào bậc cửa, vạt cỏ, để lại chút tàn tro như vật chứng tình yêu, nhưng rồi bị đàn chim núi nhặt hết: Sáng ra chim núi/ Nhặt hết tàn rơi/ Em tôi dậy muộn/ Lửa bay về trời. Đây là một thực tại bị tẩy trắng, đầy tuyệt vọng và cay đắng. Lửa bay về trời là cách nói thơ đầy thi tính, tạo nên hình ảnh lộng lẫy mà thương buồn. Nhiều người cho rằng Tàn lửa xứng đáng là một trong những bài thơ tình hay nhất của thơ Việt Nam đương đại.
Mở Lòng Thương Người Và Tha Nhân
Tiếp đến là nỗi thương người, khi Hữu Vi mở lòng về phía tha nhân. Tâm hồn anh như một ăng-ten bén nhạy, thu bắt những phận người muôn nỗi. Trong Cầu thang, anh viết về phận bạc của người thiếu phụ: Sang xuân em xuống cầu thang/ Đi về khoảng rừng vắng lặng/ Ven đường có đôi bướm trắng/ Tiễn hồn em lên Then.... Khi nhìn người con gái thêu váy, anh không thấy hạnh phúc mà chỉ âu lo về sự tàn phai: Làng bên có người chiều nay/ Theo sắc hoa vào hội/ Quên đường về// Qua xuân lá hoa còn tươi tắn/ Trên bàn tay thêu? (Em ngồi thêu váy). Đó là cơ chế tâm hồn đặc biệt của người nghệ sĩ.
Thương Nhớ Mẹ Cha Và Quê Hương Nguồn Cội
Nỗi thương buồn còn mở rộng đến tình cảm gia đình, như trong Tâm tình cùng hoa, khi nhà thơ ở xa nhớ về mẹ cha: Ngõ quê vắng quá/ Sao thương mẹ già...// Cha thời khuất núi/ Như cánh hoa tàn/ Mẹ thời tất tả/ Niềm lo vô vàn.... Tâm hồn bén nhạy ấy khiến anh nhìn cảnh quan thiên nhiên cũng thấy chạnh lòng, như trong Tháng Hai: Ngày xuân ngỡ xa lắm rồi/ Tháng hai rắc buồn nẻo núi/ Cánh đào như chưa rụng vội/ Cuối cành níu lại thanh tân.
Không Gian Văn Hóa Thái Và Tính Hiện Đại
Không khó để nhận ra trong thơ Hữu Vi một không gian núi rừng, bản làng thân thuộc của người Thái. Anh thường xuyên nhắc đến "cõi Then", "về Then", "lên Then"—những yếu tố gắn liền với văn hóa bản địa, biểu tượng cho thế giới tâm linh. Trong Anh sẽ về tháng Giêng hoa nở, anh viết: Ra giêng em về nhà chồng/ Tim anh bỗng có lửa đốt/... Thấy dáng người trong làn nước/ Mà như xa tận cõi Then. Tâm hồn bản địa của Hữu Vi không khép kín mà luôn mở ra, bắt nhịp với cuộc sống đương đại, như trong Tháng Hai: Tháng hai ngực người thiếu phụ/ Đêm nằm phấp phỏng gió nam/... Vách treo hờ hững váy chàm...—một cái nhìn căng tràn nhục cảm tính nữ hiện đại.
Nghệ Thuật Thơ Kiệm Lời Và Gợi Nghĩa
Hữu Vi rất có ý thức trong việc lập tứ và triển khai tứ thơ, khiến mỗi bài vừa kiệm lời vừa gợi mở ý nghĩa sâu xa. Bài Tàn lửa là minh chứng: không cầu kỳ chữ hay hình ảnh, giản dị toàn phần nhưng vẫn hiện đại và tươi mới. Có lần, khi được hỏi về bút danh Hữu Vi thay vì tên thật Vi Văn Choồng, nhà thơ chỉ cười hiền, như một niềm tự tín: Hữu Vi = Có Tôi, khẳng định sự hiện diện của mình giữa cuộc đời. Sáng tạo văn chương đôi khi chỉ cần một bài thơ để định vị tác giả, và Hữu Vi chính là trường hợp như thế.
Dưới đây là hai bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Hữu Vi, được trân trọng giới thiệu:
Tàn Lửa
Lập lòe đuốc lửa
Anh đi tìm em
Đi trọn một đêm
Đi tròn hai đêm
Lập lòe đuốc lửa.
Đèn không sáng cửa
Biết em ngủ rồi
Anh dụi tắt lửa
Quay về đi thôi
Biết là sẽ nhớ
Biết là càng thương
Gửi bên bậc cửa
Chút tàn đuốc vương
Biết là càng thương
Biết là sẽ nhớ
Gửi vào vạt cỏ
Chút tàn đuốc vương
Sáng ra, chim núi
Nhặt hết tàn rơi
Em tôi dậy muộn
Lửa bay về trời.
Ngôi Nhà Nơi Triền Đồi Cao
Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Mùa xuân cửa phập phồng gọi nắng
Một chú trai mong nàng nón trắng
Nàng đương theo hội tung còn.
Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Hạ về cửa bung hong nắng
Hai chú trai ngóng nàng nón trắng
Nàng còn lên núi trỉa nương.
Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Thu sang cửa mở toang đón nắng
Ba chú trai chờ nàng nón trắng
Nàng đương gặt lúa chưa về.
Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Đông lạnh cửa khép hờ đợi nắng
Bốn chú trai đợi nàng nón trắng
Người đà khăn xếp làm dâu...
Có ngôi nhà nơi triền đồi cao
Xuân sang cửa phập phồng gọi nắng...
Minh họa | NGUYỄN MINH



