Cuộc trao đổi chân dung với Vincent Van Gogh đã tạo nên bước ngoặt trong sự nghiệp của Paul Gauguin, khi ông bắt đầu vẽ những bức tự họa giàu tính biểu tượng, biến gương mặt mình thành nơi gửi gắm triết lý nghệ thuật. Theo cuốn sách mới về danh họa, những bức chân dung tự họa đầu tiên ra đời như một dạng thư từ bằng hình ảnh giữa hai nghệ sĩ, thay vì gặp mặt trực tiếp.
Bối cảnh ra đời những bức tự họa đầu tiên
Hai nghệ sĩ quyết định tự họa và không giấu giếm điều gì về những trăn trở trong sáng tác. Chân dung tự họa hoàn toàn phù hợp với thời kỳ sáng tạo mãnh liệt của Gauguin từ năm 1886 đến 1889, cũng như với việc dò dẫm trong chủ nghĩa Tượng trưng. Theo các nhà nghiên cứu, tự họa cho phép người ta nghiên cứu về cá tính: vẽ một người mẫu mà ta thấu hiểu một cách hoàn hảo, không phải sợ tính tự ái và thuận lợi cho mọi hình thái tự xét.
Gauguin đã vẽ tổng cộng 40 bức tự họa. Đôi khi ông thể hiện hình ảnh một họa sĩ bị dằn vặt, có lúc đơn giản là họa sĩ đang làm việc, hoặc dùng tự họa như một đề tài để thử nghiệm, như trong bức chân dung tự họa trưng bày ở Washington.
Bức tự họa với vầng hào quang
Được cho là đi đôi với bức Chân dung Meyer de Haan, bức tự họa này rất kỳ lạ: chiếc áo dài màu vàng tạo ấn tượng rằng người họa sĩ không có thân mình, độ tương phản giữa hai màu rực rỡ và việc dùng những đường cong tạo ra một cảm giác khác thường, tương ứng hoàn hảo với tính thẩm mỹ của chủ nghĩa Tượng trưng. Với mong muốn thể hiện mình là một linh hồn thuần khiết, không bị ràng buộc về vật chất, Gauguin thậm chí tô điểm cho đầu mình một vầng hào quang.
Sự ám chỉ đến Ki-tô giáo này gợi đến Bức chân dung Chúa Ki-tô vàng (Autoportrait au Christ jaune) hoặc Chúa Ki-tô trong vườn ô liu, được vẽ cùng thời điểm. Điều này cho thấy một Gauguin nghĩ rằng mình vừa là thánh tử vì đạo của một thế giới nghệ thuật chối bỏ ông, vừa là sứ giả của một khuynh hướng thẩm mỹ mới.
Sự phân chia hai mặt trong tự họa
Giữa thánh thiện và suy đồi, Gauguin chia bức chân dung tự họa này thành hai phần: một bên là quầng sáng, một bên là con rắn và những quả táo, gợi lên bằng chứng về nguồn gốc của tội lỗi. Với bố cục này, Gauguin tôn vinh sức mạnh của trí tuệ đối với vật chất và cũng bộc lộ tính hai mặt của chính nó: phân chia hai thế giới, giấc mơ và hiện thực, man rợ và hiện đại, người nghệ sĩ đáng ghét và con người tự tin.
Bức tự họa thứ hai và nỗi thất vọng ở Paris
Bức chân dung tự họa thứ hai, mặc dù ở hậu cảnh có một tác phẩm về Tahiti của Gauguin, Hồn ma canh giấc (Manao Tupapau), nhưng nó không được thực hiện ở Tahiti mà ở Paris khi ông quay lại đó năm 1894. Điều đặc biệt là ông còn vẽ ở mặt sau bức chân dung của William Molard, một nhạc sĩ người Thụy Điển thân với Maurice Ravel và Edvard Grieg.
Ôm bao hy vọng rằng rồi đây mình sẽ gặt hái thành công với các tác phẩm về Tahiti đầu tiên, cuối cùng Gauguin lại thất vọng. Không chỉ việc bán tranh ở Paris thất bại mà ngay cả lời đề nghị tặng bức Ia Orana Maria hay Kinh kính mừng (Je vous salue Marie) cho Bảo tàng Luxembourg, dành cho các nghệ sĩ đương thời, cũng bị từ chối.
Tuyên ngôn nghệ thuật qua tự họa
Trong bức chân dung tự họa này, Gauguin vẽ một lời biện hộ cho loại nghệ thuật mà ông đã gầy dựng ở Tahiti, thứ dường như ông coi là đỉnh cao của những suy tưởng thẩm mỹ riêng. Khuôn mặt và tác phẩm ở hậu cảnh trông như cây cầu nối giữa Paris với Tahiti. Bấy giờ, họa sĩ biết rằng ông muốn vẽ ở Tahiti nhưng ông chỉ có thể bán tác phẩm ở Paris.
Bất chấp mọi nỗ lực của Gauguin, phải đợi đến hậu thế, ông mới được tôn vinh như biểu tượng cho cả một thế hệ nghệ sĩ, từ những họa sĩ trường phái Dã thú Pháp cho đến những họa sĩ Biểu hiện Đức, người nghệ sĩ đã can đảm trốn tránh những sự bức chế của xã hội đô thị và để cho cái nguyên sơ tự bạch.



