Hồ Cấm Sơn đổi thay: Từ nỗi lo mưu sinh đến hy vọng du lịch sinh thái
Hồ Cấm Sơn đổi thay: Từ mưu sinh đến du lịch sinh thái

Trong căn phòng họp đơn sơ tại trụ sở xã, Bí thư Đảng ủy xã Nguyễn Văn Hải chia sẻ rằng dù biên chế cán bộ còn thiếu, nhiều việc đã chuyển biến tích cực. Đường giao thông được đầu tư, đời sống người dân nâng lên, kinh tế vườn-rừng và du lịch sinh thái mở ra hy vọng mới cho vùng hồ.

Rời trụ sở, chúng tôi xuống bến thuyền vào hồ Cấm Sơn, một trong những hồ nhân tạo lớn nhất cả nước. Con đường nhỏ dẫn ra bến luồn dưới những đồi vải chín muộn xanh rì, cành trĩu quả chuẩn bị cho vụ thu hoạch cuối mùa. Năm nay không được mùa lắm, nhưng vùng hồ vẫn có nhiều vườn sai quả, vải muộn đang vào độ chắc cùi, ngọt nước và thường được giá hơn.

Con thuyền khẽ rời mép nước, tiếng máy nổ giòn tan đưa chúng tôi ra giữa lòng hồ. Anh Ngọc Văn Ninh, làm nghề lái thuyền chở khách trên hồ đã gần 10 năm, nước da đen sạm vì nắng gió, nhưng cách nói chuyện nhỏ nhẹ và nụ cười hiền lành. Ra giữa hồ, không gian bỗng mở rộng mênh mang, trời xanh hòa cùng dòng nước trong ngăn ngắt và những vạt rừng trải dài như một bức tranh.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Trong lúc mọi người mải ngắm cảnh, tôi chợt nhớ chuyến đi hơn 10 năm trước. Trong căn nhà nhỏ lụp xụp giữa đảo, tôi ngồi ăn bữa cơm cùng gia đình anh Hạ. Bữa cơm đãi khách có cá hồ, thịt gà, rau vườn, nhưng tôi biết cuộc sống của gia đình anh và hàng trăm hộ dân vùng hồ khi ấy vẫn còn nhiều nhọc nhằn. Người dân gần như sống dựa cả vào tôm cá. Nửa đêm, tôi cùng bố con anh Hạ lên thuyền ra hồ kéo lưới. Thằng Tỵ, con anh Hạ khi ấy còn là cậu bé đen nhẻm, kéo lưới xong lăn ra ngủ ngon lành trên khoang thuyền. Trong câu chuyện với anh Hạ, nỗi lo mưu sinh khi tôm cá trong hồ ngày càng cạn kiệt khiến giọng anh khàn đi. Nhiều người đánh bắt tận diệt bằng kích điện, bả tôm, thậm chí nổ mìn, khiến nước hồ đục ngầu, cá chết trắng dạt vào bờ.

Kể lại chuyện xưa, anh Ninh cho hay cuộc sống gia đình anh Hạ và hàng trăm hộ dân vùng hồ giờ đây đã khá hơn rất nhiều. Các hộ chủ yếu quay sang làm kinh tế vườn, trồng vải thiều, chăn nuôi, nhiều người trẻ học xong phổ thông đi làm công nhân nhà máy dưới xuôi, không còn cảnh sống nhờ lòng hồ như xưa. Quãng thời gian 10 năm đủ dài để những đứa trẻ từng lớn lên cùng sóng nước có những con đường mưu sinh khác rộng mở hơn.

Theo anh Ninh, mấy năm gần đây, khách du lịch đến hồ đông hơn trước rất nhiều. Họ thích vừa ngắm cảnh, vừa trải nghiệm cuộc sống vùng hồ, sinh hoạt, nghỉ ngơi giữa những hòn đảo nhỏ yên tĩnh. Người dân đã hiểu, muốn làm du lịch bền vững thì phải biết chung tay giữ rừng, giữ nước hồ xanh sạch.

Sau một vòng tham quan, chúng tôi ghé vào bờ, bên một quán nhỏ dưới chân đồi dùng bữa trưa. Trong bóng cây râm mát, mặt hồ xanh ngắt như tấm gương khổng lồ, soi bóng trời mây miền sơn cước. Bữa cơm toàn những món dân dã: cá nướng, tôm rang, cá suối chiên giòn, gà đồi, rau luộc. Ngồi giữa không gian yên ả này, thật khó mường tượng có một thời người dân sống ven hồ lúc nào cũng canh cánh nỗi lo vì nạn đánh bắt tận diệt.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Trong bữa cơm, Chủ tịch UBND xã Sơn Hải Hoàng Minh Phương say sưa nói về chuyện giữ rừng, giữ hồ. Anh bảo: “Muốn giữ được hồ Cấm Sơn xanh, điều quan trọng trước tiên là phải lo được sinh kế cho người dân. Người dân sống được bằng vải thiều, bằng rừng, bằng cá lồng bè, bằng dịch vụ du lịch thì họ sẽ cùng nhau giữ hồ. Nếu chỉ trông vào đánh bắt tự nhiên thì áp lực lên mặt hồ lớn lắm”. Mấy năm gần đây, lực lượng chức năng tổ chức tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các trường hợp dùng kích điện, thuốc nổ đánh bắt cá, nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là tuyên truyền để người dân hiểu rõ: giữ được hồ xanh chính là giữ cuộc sống lâu dài của mình.

Tôi lại nhớ buổi sáng năm ấy, sau đêm đi thuyền cùng bố con anh Hạ. Bên ấm trà nóng ở trụ sở UBND xã Cấm Sơn, lãnh đạo địa phương lúc đó trăn trở với chuyện mở lớp tập huấn du lịch sinh thái cho người dân. Bởi lúc đó, câu chuyện làm du lịch ở Cấm Sơn còn rất xa vời. Người dân quen thả lưới, giăng câu hơn là đón khách. Mưu sinh qua ngày còn chật vật, chẳng ai nghĩ những con thuyền nan vốn chỉ dùng đi đánh lưới lại có ngày chở khách du lịch. Khi hỏi anh Hạ có bao giờ nghĩ đến làm du lịch không, anh cho biết ai cũng nói tiềm năng lớn, nhưng thu được gì từ nó vẫn là con số không.

Sau hơn 10 năm, nỗi trăn trở ấy đã dần hiện hữu. Những chiếc thuyền du lịch đẹp và chắc chắn hơn xuất hiện nhiều trên hồ. Người dân học cách làm dịch vụ, chở khách tham quan, giới thiệu cảnh đẹp và sản vật vùng hồ như cá, tôm, vải thiều, mật ong rừng. Khách đến không chỉ ngắm cảnh mà còn muốn đi thuyền dạo giữa mặt hồ mênh mang, ăn bữa cơm trên những hòn đảo và cảm nhận sự yên bình, trong lành của miền sơn cước.

Quan điểm của tỉnh Bắc Ninh là không phát triển thêm các dự án du lịch lớn quanh hồ nhằm giữ nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt. Nhưng điều đó không có nghĩa Cấm Sơn khép cửa với du lịch. Địa phương vẫn khuyến khích người dân phát triển mô hình du lịch sinh thái, du lịch nông nghiệp theo hướng phù hợp với cảnh quan tự nhiên của vùng hồ để tăng thêm thu nhập.

Sơn Hải hôm nay vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng điều khiến tôi cảm nhận rõ nhất trong chuyến trở lại lần này là cách nghĩ của người dân về giữ rừng, giữ hồ đã khác trước rất nhiều. Người dân hiểu rằng mặt nước xanh trong, cảnh quan nguyên sơ, yên bình của hồ Cấm Sơn chính là tài sản quý giá nhất để vùng hồ này tồn tại lâu dài. “Cấm Sơn chính là viên ngọc quý của xã, của tỉnh, giữ cho hồ xanh cũng là giữ cuộc sống lâu dài cho bà con”, anh Phương nói. Tôi lặng lẽ nhìn ra mặt hồ phía trước. Mặt nước Cấm Sơn vẫn xanh ngắt dưới trời mây, và những trăn trở năm nào cũng lặng lẽ tìm được câu trả lời trong cuộc sống đổi thay của người dân ven hồ.