Tại hội thảo Kinh tế di sản: từ lý thuyết đến chính sách và thực tiễn phát triển bền vững do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) tổ chức ngày 19.5 tại Hà Nội, PGS-TS Nguyễn Thị Việt Hương đã chia sẻ ý tưởng thiết kế tuyến du lịch mang tên 'Dòng sông tâm linh'. Ý tưởng này dựa trên thực tế khu vực ven sông Hồng thuộc Hà Nội và các vùng phụ cận, nơi có nhiều điểm thực hành tục thờ nước, bao gồm thần mưa, thần sông, và thờ các dũng sĩ diệt thủy quái, với hơn 113 lễ hội liên quan. Việc kết nối các điểm di sản này với nhau có thể tạo thành một 'tuyến văn hóa' du lịch uyển chuyển và hấp dẫn hơn.
PGS-TS Việt Hương nhấn mạnh rằng việc chuyển đổi từ tư duy điểm di sản sang liên kết di sản đã được UNESCO đề cập từ lâu. Bà dẫn chứng Con đường tơ lụa, nơi giá trị cốt lõi nằm ở toàn bộ mạng lưới giao thương và giao lưu văn hóa trải dài qua nhiều thời kỳ và quốc gia. Gần đây, hồ sơ quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc gửi UNESCO cũng là một ví dụ về tuyến văn hóa.
Lượng hóa giá trị di sản và mức sẵn sàng chi trả
Tác giả Nguyễn Thị Vĩnh Hà (Trường Đại học Kinh tế, ĐHQG Hà Nội) đã chia sẻ phương pháp lượng hóa giá trị di sản văn hóa thông qua trường hợp đền Vua Đinh - Vua Lê trong quần thể danh thắng Tràng An. Kết quả nghiên cứu cho thấy khách nội địa sẵn sàng chi trả trung bình 750.000 đồng mỗi lượt, trong khi khách quốc tế sẵn sàng chi 15,5 USD mỗi lượt. Hơn 85% du khách cũng bày tỏ sẵn lòng đóng góp vào quỹ bảo tồn di sản nếu có sự giám sát của cộng đồng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức sẵn sàng chi trả cao hơn nếu du khách từng biết đến hoặc đã tham quan di tích, được trải nghiệm các nghi lễ truyền thống và công nghệ thực tế ảo.
Rủi ro từ quá tải và thương mại hóa di sản
TS Phạm Hồng Long (Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội) đã chỉ ra những rủi ro đối với phát triển kinh tế di sản, bao gồm quá tải du lịch, thương mại hóa quá mức, suy giảm bản sắc và hiện tượng 'Disney hóa' di sản. Ông đề xuất xây dựng công cụ quản lý sức tải cho từng di sản nhằm phân bổ lượng khách và dòng khách hợp lý theo thời gian và không gian. Ngoài ra, cần hạn chế các hoạt động thương mại có thể làm biến dạng giá trị văn hóa, đồng thời ưu tiên các thực hành văn hóa gắn liền với cộng đồng địa phương.
Hạn chế trong quản lý và vận hành di sản
TS Phạm Cao Quý nêu lên những hạn chế ảnh hưởng đến kinh tế di sản, đặc biệt là tư duy quản lý hành chính đang chiếm ưu thế. Hệ quả là di sản được 'quản lý' nhưng không được 'vận hành' như một tài sản kinh tế. Ông cũng chỉ ra rằng cộng đồng chưa thực sự là chủ thể hưởng lợi; doanh nghiệp du lịch và chính quyền là những bên hưởng lợi chính từ khai thác kinh tế di sản, trong khi nghệ nhân và người thực hành thường nhận thù lao không tương xứng, dẫn đến mất dần sự gắn bó với thực hành di sản, đặc biệt là ở thế hệ trẻ.
Hướng tới kinh tế di sản bền vững
PGS-TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, nhấn mạnh: 'Trung tâm của kinh tế di sản phải là cộng đồng và con người, chứ không phải chỉ là thị trường'. Ông cảnh báo rằng nếu thương mại hóa quá nhanh, di sản có thể vẫn thu hút đông khách nhưng sẽ nghèo dần về chiều sâu văn hóa, mất tính chân xác và giảm tính bền vững. PGS-TS Sơn đề xuất sớm xây dựng một khung chính sách quốc gia về kinh tế di sản như một hợp phần của chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số di sản.



