Ngày quốc tế đa dạng sinh học năm 2026 đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều cơ quan trung ương, địa phương, tổ chức quốc tế, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng địa phương. Sự kiện mang chủ đề “Hành động của địa phương cho hiệu quả toàn cầu”, nhấn mạnh thông điệp rằng các mục tiêu toàn cầu về bảo tồn thiên nhiên và sử dụng bền vững đa dạng sinh học chỉ có thể đạt được thông qua những hành động cụ thể, có nguồn lực và có thể đo lường tại từng địa phương, hệ sinh thái và cộng đồng.
Ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam
Chủ đề năm nay có ý nghĩa đặc biệt khi Việt Nam đang đẩy mạnh triển khai Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đồng thời thúc đẩy thực hiện Khung Đa dạng sinh học toàn cầu Kunming-Montreal (GBF) trong khuôn khổ Công ước về Đa dạng sinh học (CBD). Đây là giai đoạn quan trọng để chuyển hóa các cam kết quốc tế thành hành động thực tiễn, lồng ghép đa dạng sinh học vào các ngành kinh tế, quy hoạch phát triển và đời sống xã hội.
Phát biểu của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Quốc Trị khẳng định: “Việt Nam tiếp tục thể hiện vai trò là thành viên tích cực và có trách nhiệm trong thực hiện Công ước đa dạng sinh học và Khung đa dạng sinh học toàn cầu Kunming-Montreal. Việt Nam đang từng bước nội luật hóa và cụ thể hóa các mục tiêu toàn cầu vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chương trình phát triển quốc gia, với quan điểm xuyên suốt là bảo tồn thiên nhiên phải trở thành nền tảng cho phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân”.
Những kết quả nổi bật trong bảo tồn thiên nhiên
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong bảo tồn thiên nhiên, phục hồi hệ sinh thái và thúc đẩy phát triển hài hòa với thiên nhiên. Đến nay, Việt Nam đã hình thành mạng lưới gồm 180 khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn và dưới nước, bao gồm các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển và khu bảo tồn đất ngập nước, với tổng diện tích hơn 2,67 triệu ha. Tỷ lệ che phủ rừng tiếp tục được duy trì ổn định trên 42%, góp phần quan trọng vào bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn nước, thích ứng với biến đổi khí hậu và hấp thụ carbon.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tiếp tục mở rộng và nâng cao vị thế của các danh hiệu quốc tế về bảo tồn thiên nhiên, với nhiều khu Ramsar, khu dự trữ sinh quyển thế giới và vườn di sản ASEAN được công nhận. Song song với bảo tồn tại chỗ, công tác bảo tồn loài hoang dã nguy cấp được tăng cường thông qua các chương trình cứu hộ, nhân nuôi bảo tồn, tái thả về tự nhiên, kiểm soát buôn bán trái phép động vật hoang dã và phục hồi sinh cảnh.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế phối hợp
Hệ thống pháp luật và cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý đa dạng sinh học tiếp tục được hoàn thiện nhằm tăng cường hiệu quả thực thi và kiểm soát các hành vi vi phạm. Đa dạng sinh học được lồng ghép vào các chiến lược và quy hoạch phát triển quốc gia, ngành và địa phương. Cơ chế tài chính cho bảo tồn thiên nhiên được đa dạng hóa. Việt Nam cũng tích cực thúc đẩy tiếp cận toàn xã hội trong bảo tồn đa dạng sinh học, tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương, phụ nữ, thanh niên, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Nhiều mô hình đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên, sinh kế bền vững và bảo tồn dựa vào cộng đồng đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc giảm áp lực lên tài nguyên thiên nhiên và nâng cao khả năng chống chịu của hệ sinh thái.
Định hướng trong giai đoạn tới
Thứ trưởng Nguyễn Quốc Trị cho biết, trong giai đoạn tới, Việt Nam sẽ tiếp tục ưu tiên nâng cao hiệu quả thực thi ở cấp địa phương, tăng cường năng lực cho chính quyền cơ sở, ban quản lý các khu bảo tồn và cộng đồng dân cư. Cùng với đó, việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên thiên nhiên sẽ được chú trọng nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học. Nhiều công nghệ hiện đại như hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám, bẫy ảnh, eDNA, thiết bị bay không người lái và các hệ thống giám sát thông minh đang từng bước được triển khai, góp phần nâng cao chất lượng theo dõi, giám sát và quản lý tài nguyên thiên nhiên.
Đồng hành cùng UNDP
Đồng hành cùng Việt Nam trong quá trình này, bà Francesca Nardini, Phó Trưởng Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam cho biết: “UNDP tự hào phối hợp với Chính phủ Việt Nam và các đối tác nhằm tăng cường thể chế, huy động nguồn lực tài chính cho đa dạng sinh học và thúc đẩy các giải pháp dựa vào thiên nhiên”. Theo bà, các hoạt động hỗ trợ hiện nay tập trung vào xây dựng Báo cáo quốc gia lần thứ bảy thực hiện Công ước đa dạng sinh học; phục hồi, quản lý bền vững rừng, rừng ngập mặn, đất ngập nước và các hệ sinh thái ven biển; đồng thời tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương trong công tác bảo tồn thiên nhiên.



