Đầm Cầu Hai: Không gian lắng dịu giữa lịch sử và thiên nhiên
Từ trung tâm thành phố Huế, men theo quốc lộ 1 khoảng bốn mươi cây số về phía nam, du khách sẽ bắt gặp thị trấn Phú Lộc cũ. Rẽ trái vào một con đường nhỏ, một khu nghỉ dưỡng yên tĩnh hiện ra bên bờ đầm Cầu Hai, ẩn mình giữa không gian nước trời mênh mông. Nơi đây mang đến một cảm giác an nhiên khó tả: sự lắng dịu trước mặt nước đầm phá rộng lớn, khác biệt hoàn toàn với sự hung vĩ của biển cả chỉ cách đó một dải cát dài.
Gió nhẹ luồn qua những hàng cây thấp ven bờ, mang theo hơi thở mát lành. Bất cứ ai đến đây cũng có thể tự mình cảm nhận sự thư thái mà đầm nước ban tặng. Với riêng tôi, mỗi lần dừng chân tại nơi này, cảm nhận ấy lại mang một chiều sâu khác. Đó là cảm giác như được chạm vào một lớp không gian lịch sử đã lùi xa hơn bảy trăm năm.
Ánh sáng cổ xưa và bóng hình công chúa
Từ bất kỳ căn nhà nghỉ nào ven đầm, du khách đều có thể phóng tầm mắt xuống mặt nước lấp lóa một thứ ánh sáng cổ xưa, mờ ảo. Trong ánh sáng huyền hoặc ấy, hình bóng một người con gái Đại Việt dường như vẫn in bóng trên sóng nước: công chúa Huyền Trân.
Rất nhiều lần tôi dậy sớm để chụp ảnh bình minh trên đầm Cầu Hai. Hình ảnh đầu tiên hiện lên giữa không gian khoáng đạt của mặt nước, nối liền đầm phá với biển Đông, là một cửa bể với chiếc cầu bắc ngang mang tên Tư Hiền - cũng chính là tên của cửa bể này. Khoảnh khắc ấy khiến tôi chợt nhớ đến công chúa Huyền Trân trong những tháng ngày mà công cuộc "sắp xếp giang san" đang diễn ra với bao xao động cảm xúc.
Đầm Cầu Hai thông ra biển bằng cửa Tư Hiền. Vào mùa Hạ năm 1306, chính nơi đây, công chúa Huyền Trân đã từ biệt Đại Việt để về làm vợ Quốc vương Chiêm Thành Chế Mân. Tương truyền, để đảm bảo an toàn trước khi về đến đất Chiêm Thành, đoàn thuyền của công chúa đã có một quãng đường dài xuyên qua phá Tam Giang và đầm Cầu Hai ngày nay.
Từ Tư Dung đến Tư Hiền: Những biến dịch của lịch sử
Sau cuộc chia ly vì đại cuộc của Huyền Trân, cửa bể được mang tên Tư Dung. Có nhiều cách giải thích về tên gọi này, nhưng tựu trung vẫn là nỗi nhớ (Tư) người con gái đẹp (Dung) đã hy sinh tình riêng cho trăm họ an vui, quốc gia rộng thêm bờ cõi. Đến thế kỷ 19, cửa bể Tư Dung được đổi tên thành Tư Hiền và tên gọi ấy vẫn còn đến ngày nay.
Theo sách "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi lại ở quyển 8: "Bính Ngọ, năm thứ 14 (1306). Tháng 6, mùa Hạ. Gả Huyền Trân công chúa cho chúa Chiêm Thành là Chế Mân, Chế Mân đem dâng đất châu Ô và châu Lý." Chỉ mấy dòng ngắn ngủi trong trang sử cũ nhưng bao nhiêu nỗi niềm vẫn còn âm vang qua điệp trùng ngày tháng.
Mở rộng bờ cõi và gieo mầm văn hóa
Sau đám cưới mùa Hạ năm 1306, những đoàn người Việt mới thực sự "danh chính ngôn thuận" trở thành chủ nhân của vùng đất sính lễ này. Những lưu dân từ miền Thanh Nghệ, xa hơn có cả từ châu thổ sông Hồng, đã vào miền Ô Lý lập làng dựng ấp, sống hòa hiếu với cư dân bản địa.
Họ mang theo tiếng nói, phong tục, tín ngưỡng, nghề nông và cả những đức tin mộc mạc. Ngày nay, trong nhiều cuộc khai quật khảo cổ, người ta vẫn có thể thấy bóng dáng những đền tháp Champa và cột đá chùa Việt cạnh nhau - minh chứng cho sự giao thoa văn hóa độc đáo.
Hai châu Ô Lý dần trở thành Thuận Châu và Hóa Châu, rồi thành Quảng Trị, Huế ngày nay. Từ một vùng đất sính lễ, Ô Lý xa xưa đã trở thành vùng đất chiến lược và sâu dày những tầng nấc văn hóa. Không ai ngờ rằng, vài thế kỷ sau, vùng Thuận Hóa - Phú Xuân trở thành kinh đô của nhà Nguyễn, kéo dài hơn 200 năm và hiện nay là cố đô - di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận.
Di sản trường tồn qua hơn bảy thế kỷ
Chọn sính lễ để mở rộng bờ cõi giang san là chuyện lớn, nhưng đám cưới Huyền Trân mang lại cho Đại Việt không chỉ là vài vạn dặm vuông đất đai. Đám cưới ấy đã góp phần giữ cho vùng phên giậu phía Nam của Đại Việt êm thuận, hòa bình. Lần giở trong sử cũ, miền đất Ô Lý này kể từ khi Lý Thường Kiệt và cuộc Nam tiến đầu tiên năm 1069 cho đến khi trở thành sính lễ cưới Huyền Trân năm 1306, hiếm khi nào vắng những cuộc giao tranh trong gần ba thế kỷ.
Nó chỉ thực sự bình yên khi sau bước chân của Huyền Trân về đến đất Chiêm - và sau này thành châu Thuận, châu Hóa của đất Đại Việt. Từ cái phên giậu này, cương vực Đại Việt tiến dần về phương Nam, mở ra một chương mới trong lịch sử mở cõi của dân tộc.
Ngày công chúa Huyền Trân cất bước xuống thuyền từ biệt Thăng Long là mùa Hạ năm Bính Ngọ 1306. Và năm nay, 2026, cũng là năm Bính Ngọ. Bảy trăm hai mươi năm, hơn bảy thế kỷ trôi qua, bản đồ đất nước nhiều lần được vẽ lại, giang sơn đã nhiều cuộc được tiền nhân sắp xếp đổi dời, nhiều địa danh đã thay thế bằng tên gọi khác.
Nhưng có những điều không hề phai mờ: hình bóng một người con gái Đại Việt đã lặng lẽ bước qua số phận của mình để mở lối cho giang san. Không chỉ là bờ cõi rộng thêm, mà một mạch nguồn văn hóa khác được nhen nhóm, bằng sự hy sinh và cả nỗi niềm thân phận, thấm vào từng làn điệu, từng phách nhịp của miền Thuận Hóa để ra đời khúc ca Nam bình.
Giờ đây, đêm đêm trên dòng Hương Giang với ký ức kinh đô, du khách vẫn nghe được dư âm của một cuộc tiễn đưa, một lời từ biệt, một nỗi nhớ nước non lặng thầm suốt bảy thế kỷ. Từ hai châu Ô, Lý ngày ấy, người Việt đã tiếp tục hành trình mở cõi bằng những cuộc ra đi trong lặng lẽ hy sinh, bằng một cuộc hòa giải giữa đất và người, giữa quá khứ và tương lai.
Và Bính Ngọ 2026 này, chúng ta không thể không nhớ về Bính Ngọ năm 1306 ấy, không thể không lắng nghe bao nhiêu nỗi niềm còn vang vọng Huyền Trân giữa sóng nước Cầu Hai!



