Việt Nam mở rộng hợp tác nghiên cứu quốc tế vì khoa học tự chủ
Việt Nam mở rộng hợp tác nghiên cứu quốc tế vì tự chủ

Trong chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, Việt Nam xác định hợp tác quốc tế là đòn bẩy quan trọng để tiếp nhận tri thức nhân loại. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, đến năm 2030, nước này sẽ triển khai ít nhất 100 nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu quốc tế có sự tham gia thực chất của đối tác ngoài nước; con số này tăng lên 300 vào năm 2035.

Mục tiêu cụ thể đến 2030 và 2035

Mỗi nhóm nghiên cứu mạnh cũng phải có ít nhất một đối tác quốc tế chiến lược. Yêu cầu này nằm trong định hướng xây dựng nền nghiên cứu cơ bản hiện đại, tự chủ, hội nhập, có trọng tâm, tạo ra tri thức mới, đào tạo nhân lực tinh hoa và cung cấp luận cứ cho hoạch định chính sách phát triển công nghệ chiến lược.

Thực tiễn cho thấy các viện nghiên cứu, trường đại học đã coi hợp tác quốc tế là phương thức then chốt. Giai đoạn 2023-2025, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam triển khai hơn 100 nhiệm vụ, dự án quốc tế, hình thành hơn 20 nhóm nghiên cứu quốc tế và 10 phòng thí nghiệm liên kết, đồng thời tổ chức hơn 100 hội nghị quốc tế với khoảng 3.000 lượt nhà khoa học tham gia.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Từ trao đổi học thuật sang đồng nghiên cứu

Mô hình Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, phát triển từ liên kết với hơn 40 viện nghiên cứu và trường đại học của Pháp, cho thấy hợp tác có thể tạo hệ sinh thái gắn kết đào tạo, nghiên cứu và nhân lực. Trường triển khai các chương trình song bằng, giảng dạy bằng tiếng Anh và mở rộng đào tạo vi mạch bán dẫn, khoa học vũ trụ, kỹ thuật hàng không.

Trong nghiên cứu cơ bản, Trung tâm quốc tế Đào tạo-Nghiên cứu Toán học và Trung tâm Vật lý quốc tế đã trở thành đầu mối kết nối với mạng lưới học thuật khu vực và thế giới. Việc UNESCO đồng ý về nguyên tắc tiếp tục bảo trợ hai trung tâm giai đoạn 2026-2032 khẳng định chuẩn mực quốc tế của các tổ chức khoa học trong nước.

Đẩy mạnh công nghệ chiến lược

Tại Diễn đàn kỷ niệm 35 năm quan hệ Đối thoại ASEAN-Liên bang Nga ở Kazan, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đề xuất tăng cường hợp tác AI, công nghệ lượng tử, vũ trụ và vệ tinh quỹ đạo tầm thấp, cũng như các nhiệm vụ nghiên cứu chung đồng tài trợ. Hợp tác quốc tế đang chuyển từ trao đổi ngắn hạn sang đồng tài trợ, đồng nghiên cứu và cùng phát triển đội ngũ.

Tuy nhiên, sự chuyển đổi chưa đồng đều. Một số nơi vẫn thiên về ký biên bản ghi nhớ, tổ chức hội thảo, trao đổi ngắn hạn, trong khi các dự án đồng nghiên cứu, tạo ra năng lực duy trì sau hợp tác còn hạn chế. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Nam, Giám đốc Trung tâm Nano và Năng lượng, Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho biết định hướng nghiên cứu vật lý ưu tiên vật lý lượng tử, vật liệu tiên tiến, quang học, vật lý tính toán, khoa học dữ liệu và AI, đồng thời phát triển nhóm nghiên cứu mạnh và trung tâm xuất sắc.

Hợp tác Nhật Bản, Hàn Quốc và bài toán hấp thụ tri thức

Giá trị hợp tác phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận và làm chủ tri thức của nội lực. Trong khuôn khổ dự án SATREPS EDFEN do JICA tài trợ, Trung tâm Nghiên cứu-Phát triển-Đào tạo về khoa học và công nghệ phân tích được thành lập tại Trường đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQG Hà Nội, phục vụ giám sát môi trường, an toàn thực phẩm, chất lượng nước và không khí.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nhận định các đơn vị trong nước đã làm chủ chiết tách, phân lập, xác định cấu trúc và đánh giá hoạt tính sinh học của hợp chất từ dược liệu, nhưng năng lực chế biến sâu, bào chế, tiêu chuẩn hóa hoạt chất và hoàn thiện sản phẩm theo chuẩn quốc tế còn hạn chế. Hàn Quốc có thế mạnh tổ chức chuỗi nghiên cứu-sản xuất-thị trường; việc xây dựng phòng thí nghiệm chung, đồng nghiên cứu và đồng phát triển sản phẩm có thể giúp hai bên bổ sung năng lực trong lĩnh vực sinh dược-mỹ phẩm.

Tương tự, trong lĩnh vực hydrogen, Việt Nam mới dừng ở nghiên cứu vật liệu lưu trữ và chất mang ở quy mô phòng thí nghiệm, trong khi Hàn Quốc phát triển đồng bộ từ vật liệu, lưu trữ đến tích hợp hệ thống. Ông Trần Hồng Thái đề xuất các chương trình hợp tác dài hạn và dự án thí điểm để đưa kết quả nghiên cứu lên quy mô ứng dụng.

Doanh nghiệp đầu tàu và vai trò trường đại học

Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy doanh nghiệp tham gia sớm quyết định khả năng hấp thụ công nghệ. Theo Báo cáo Phát triển bền vững năm 2025, Samsung dành khoảng 35 nghìn tỷ won cho nghiên cứu và phát triển, vận hành 40 trung tâm nghiên cứu và phối hợp với Đại học Sungkyunkwan đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ về bán dẫn, hiển thị và truyền thông số.

Tại Việt Nam, JICA phối hợp Đại học Bách khoa Hà Nội và Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia triển khai chương trình tăng cường nghiên cứu AI và phát triển nhân lực. Từ năm 2025, chương trình Trí tuệ người tiêu dùng toàn cầu giúp sinh viên tiếp cận AI, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Giáo sư Matsuo, Đại học Tokyo, cũng trực tiếp giảng dạy cho khoảng 300 sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội vào tháng 9/2025.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Cao Vinh, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết nhà trường đang phát triển các chương trình liên ngành về bán dẫn, AI, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, mở rộng liên kết quốc tế và chương trình cấp bằng chung. Trường khuyến khích nghiên cứu, công bố khoa học ngay từ bậc đại học, gắn đào tạo với nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp.

Nền tảng cho tự chủ khoa học

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Trung, Viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), cần tổ chức lại đội ngũ nghiên cứu theo mô hình giáo sư gắn với nghiên cứu sinh, sau tiến sĩ và trợ lý nghiên cứu, thay vì chỉ tăng đầu tư. Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Hồ Hải, nguyên Viện trưởng Viện Toán học, cũng nhấn mạnh hợp tác quốc tế là điều kiện cần để phát triển nghiên cứu cơ bản, thu hút chuyên gia quốc tế, nhưng cần bảo đảm môi trường học thuật và cơ chế phù hợp.

Hợp tác với các đối tác Nga qua Viện Liên hiệp Nghiên cứu hạt nhân Dubna đã giúp nhiều nhà khoa học Việt Nam tiếp cận hạ tầng lớn, tham gia nhóm quốc tế trong các lĩnh vực biển, vật liệu, công nghệ sinh học, khoa học Trái đất, vật lý hạt nhân và năng lượng cao. Những chương trình duy trì bền bỉ này tạo ra kết quả khoa học và đào tạo thế hệ trẻ.

Ngày 30/7/2026, Bộ Chính trị công bố quyết định kiện toàn Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, do Thủ tướng Lê Minh Hưng làm Trưởng ban. Đây là bước cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW, trong đó yêu cầu gắn hợp tác quốc tế với lĩnh vực ưu tiên, nhóm nghiên cứu mạnh và nhân lực kế cận.

Chuyển từ tiếp nhận sang cùng sáng tạo, mỗi chương trình hợp tác cần được đánh giá bằng năng lực duy trì sau khi dự án kết thúc: đội ngũ, phương pháp, dữ liệu, quy trình kỹ thuật và khả năng làm chủ công nghệ then chốt. Khi tri thức ngoại được tiếp nhận và phát triển bằng nguồn lực trong nước, khoa học cơ bản sẽ trở thành nền móng cho năng lực tự chủ, công nghệ chiến lược và phát triển bền vững.