Đại hội XIV đặt mục tiêu tự chủ nghiên cứu, sản xuất vũ khí, hướng tới hiện đại hóa Quân đội
Đại hội XIV của Đảng đã xác định mục tiêu chiến lược chuyển mạnh từ nhập khẩu, lắp ráp sang tự chủ nghiên cứu, sản xuất vũ khí trang bị kỹ thuật. Trong cuộc trao đổi với VnExpress, Thiếu tướng Phạm Thanh Khiết, Phó chủ nhiệm, Tham mưu trưởng Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, nhấn mạnh rằng đây không chỉ là sự điều chỉnh về phương thức sản xuất, mà còn là bước chuyển tư duy chiến lược quan trọng. Mục tiêu này nhằm bảo đảm Quân đội làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi, từng bước tiến thẳng lên hiện đại từ năm 2026, sớm hơn một nhiệm kỳ so với yêu cầu trước đây.
Điểm mới trong tư duy phát triển công nghiệp quốc phòng
Theo Thiếu tướng Phạm Thanh Khiết, điểm mới nổi bật nhất trong tư duy phát triển công nghiệp quốc phòng lần này là sự bổ sung và nhấn mạnh rõ ràng thành tố "tự chủ, tự lực, tự cường". Trước đây, Việt Nam khẳng định tính hiện đại, lưỡng dụng và từng bước nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Tuy nhiên, lần này tư duy được nâng lên một nấc mới: không chỉ sản xuất trong nước, mà phải tự chủ toàn bộ quá trình, từ nghiên cứu, thiết kế đến chế tạo, sản xuất và phát triển lâu dài.
Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh, với sự xuất hiện của nhiều loại vũ khí công nghệ cao, chiến tranh từ xa, và tác chiến không gian mạng, yêu cầu đặt ra không còn dừng ở việc có vũ khí, mà phải là làm chủ được vũ khí. Điều đó bao gồm cả công nghệ nền, công nghệ lõi và khả năng cải tiến theo yêu cầu thực tiễn.
Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ 12 đều xác định rõ chuyển từ nhập khẩu và lắp ráp là chính sang tự chủ nghiên cứu, sản xuất trong nước; đồng thời thương mại hóa các sản phẩm công nghiệp quốc phòng, kể cả vũ khí trang bị kỹ thuật và sản phẩm lưỡng dụng. Nếu triển khai tốt, đây sẽ là một trong ba khâu đột phá của nhiệm kỳ 2025-2030, tạo nền tảng để Quân đội tiến thẳng lên hiện đại từ năm 2026.
Nền tảng năng lực công nghiệp quốc phòng của Việt Nam
Thiếu tướng Phạm Thanh Khiết đánh giá Việt Nam có nền tảng khá vững chắc để tiến tới mục tiêu tự chủ. Thứ nhất là thể chế: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công nghiệp quốc phòng đã cơ bản đồng bộ, với nhiều cơ chế đặc thù vượt trội, đặc biệt về khoa học công nghệ, thu hút nhân lực chất lượng cao và liên kết với doanh nghiệp ngoài Quân đội.
Thứ hai là con người: đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật phát triển cả về số lượng và chất lượng, với các tổ, nhóm nghiên cứu mạnh trong một số lĩnh vực mũi nhọn. Thứ ba là hạ tầng công nghệ: hệ thống nhà máy, viện nghiên cứu được đầu tư tương đối đồng bộ với nhiều phòng thí nghiệm, dây chuyền hiện đại.
Quan trọng hơn, Việt Nam đã làm chủ nhiều công nghệ nền, công nghệ lõi và công nghệ chiến lược. Công nghiệp quốc phòng đã chế tạo thành công, sản xuất hàng loạt và đưa vào trang bị nhiều loại vũ khí mới, công nghệ cao. Hiện nay, Việt Nam cơ bản bảo đảm được vũ khí trang bị lục quân; tự chủ trong thiết kế, đóng mới các loại tàu quân sự hiện đại và một số vũ khí trên tàu; làm chủ thiết kế, sản xuất hầu hết các loại khí tài quân sự hiện đại, các hệ thống tự động hóa chỉ huy điều khiển đến cấp chiến lược.
Việt Nam cũng đã làm chủ sản xuất nhiều loại vật tư đặc chủng, trong đó có nhiều chủng loại thuốc phóng, thuốc nổ mạnh mà không nhiều nước sản xuất được. Gần đây, một số loại vũ khí có ý nghĩa chiến lược mới đã được sản xuất hàng loạt và đưa vào trang bị với tiến độ vượt nhiều năm so với kế hoạch. Những thành tựu này là tiền đề để tiến nhanh hơn, mạnh hơn trong lộ trình hiện đại hóa Quân đội.
Tự chủ toàn bộ chuỗi giá trị công nghiệp quốc phòng
Ở góc độ chuyên môn, tự chủ công nghiệp quốc phòng phải được hiểu là tự chủ toàn bộ chuỗi giá trị, từ hình thành ý tưởng, nghiên cứu cơ bản, thiết kế, chế tạo, sản xuất, đến bảo đảm kỹ thuật, nâng cấp và cải tiến vũ khí trang bị. Nếu chỉ dừng ở khâu sản xuất mà không làm chủ thiết kế, Việt Nam vẫn phụ thuộc công nghệ. Nếu không tự chủ bảo đảm kỹ thuật, khả năng duy trì sức chiến đấu lâu dài sẽ bị hạn chế.
Yêu cầu đặt ra là làm chủ các công nghệ nền tảng như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa, cùng với vật liệu mới và cơ khí chính xác. Đây là điều kiện tiên quyết để hình thành các sản phẩm mang "thương hiệu Việt Nam". Vũ khí chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi tự chủ cả khâu bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp phù hợp điều kiện tác chiến và phương thức chiến tranh hiện đại.
Việc chuyển từ mua sắm sang tự sản xuất đòi hỏi thay đổi lớn về tổ chức và nguồn lực, với năm nhóm vấn đề then chốt cần tập trung:
- Hoàn thiện thể chế theo hướng hiện đại, khơi thông nguồn lực, ưu tiên cơ chế đặc thù cho công nghiệp quốc phòng, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ có trí tuệ, bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm; hình thành chuyên gia đầu ngành và tổng công trình sư cho các lĩnh vực mũi nhọn.
- Đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, triển khai các đề án trọng điểm để làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi và công nghệ chiến lược.
- Huy động hiệu quả tiềm lực công nghiệp quốc gia, xây dựng doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng đủ mạnh để dẫn dắt và tạo năng lực chung cho toàn hệ thống.
- Hợp tác quốc tế có chọn lọc, đa dạng hóa đối tác, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm công nghiệp quốc phòng.
Tuy nhiên, mọi chiến lược chỉ có thể thành công khi đi kèm lộ trình rõ ràng và nguồn lực tài chính tương xứng.
Phát triển lưỡng dụng và tác động dài hạn của định hướng tự chủ
Phát triển theo hướng lưỡng dụng là bước đi chiến lược đối với Việt Nam. Lưỡng dụng không chỉ là xu hướng chung của thế giới mà còn là cách kết nối tiềm lực khoa học công nghệ giữa khu vực quân sự và dân sự, chia sẻ nền tảng công nghệ, chuẩn hóa thiết kế, gắn kết nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng. Khi đó, công nghiệp quốc phòng không tách biệt mà trở thành một cấu phần của hệ sinh thái công nghiệp quốc gia; các công nghệ hiện đại có thể lan tỏa sang lĩnh vực dân sinh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ quốc gia.
Thực tế, công nghiệp quốc phòng đã đóng vai trò hạt nhân trong nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm lưỡng dụng; triển khai trung tâm dữ liệu quy mô lớn và siêu lớn, nhà máy chip bán dẫn; nhiều nhà khoa học đã công bố bài báo quốc tế và sở hữu bằng sáng chế trong và ngoài nước. Điều này vừa tăng cường năng lực quốc phòng, vừa thúc đẩy phát triển công nghệ quốc gia.
Trong bối cảnh hội nhập, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ cần hướng tới chuyển giao tri thức, chứ không chỉ nhập khẩu sản phẩm hoàn chỉnh. Việt Nam phải tham gia vào khâu thiết kế, đào tạo chuyên gia, tiếp nhận quy trình, tài liệu kỹ thuật và quyền cải tiến theo yêu cầu riêng; đồng thời đa dạng hóa đối tác để tránh phụ thuộc. Chuyển giao công nghệ chỉ là bước đệm để tiến tới tự thiết kế, tự sản xuất và tự nâng cấp.
Nếu triển khai hiệu quả định hướng tự chủ, trước hết Quân đội sẽ được trang bị vũ khí hiện đại, phù hợp phương thức tác chiến mới, bảo đảm khả năng sẵn sàng chiến đấu lâu dài. Xa hơn, tự chủ nghiên cứu và sản xuất sẽ tạo điều kiện hình thành cách đánh mới, nghệ thuật quân sự mới. Ở tầm quốc gia, đây là nền tảng thúc đẩy khoa học công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao, xây dựng hệ sinh thái công nghiệp lưỡng dụng hiện đại, góp phần củng cố quốc phòng toàn dân và đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.



