Xét tương quan với giá thuê mặt bằng cũng như lợi ích kinh tế mang lại, nhiều ý kiến cho rằng mức phí thuê vỉa hè tại các tuyến phố trung tâm Hà Nội hiện nay là quá thấp. Với mức phí 45.000 đồng/m2/tháng, một hộ kinh doanh chỉ cần bỏ ra 450.000 đồng/tháng cho diện tích 10 m2, đổi lại có thể thu về doanh thu lớn hơn nhiều lần. Kiến trúc sư Trần Huy Ánh nhận định: "Việc đầu tư hàng tỉ đồng vào hạ tầng vỉa hè nhưng chỉ thu lại mức phí chênh lệch hàng trăm, hàng ngàn lần giá trị đầu tư là phi kinh tế".
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng với những tuyến phố trung tâm có giá trị thương mại lớn, mức 45.000 đồng/m2/tháng chưa phản ánh đầy đủ lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, bà cũng lưu ý không nên so sánh cơ học với giá thuê mặt bằng thương mại, vì vỉa hè là không gian công cộng được cho sử dụng tạm thời, có điều kiện và có thể bị thu hồi. Do đó, mức phí không thể hiểu như giá thuê tài sản thương mại đầy đủ quyền khai thác.
Theo bà Nga, vấn đề mấu chốt là phương pháp xác định giá. Nếu đặt giá quá thấp, tài sản công bị khai thác dưới giá trị, lợi ích công cộng chuyển thành lợi ích riêng. Nếu giá quá cao, chính sách chỉ dành cho người có năng lực tài chính mạnh, đẩy hộ kinh doanh nhỏ ra ngoài. Bà kiến nghị phân loại vỉa hè khi xác định giá cho thuê. Với vị trí bình thường, phục vụ sinh kế nhỏ, áp dụng mức phí ổn định, vừa phải. Riêng vị trí có giá trị thương mại cao như trung tâm, phố đi bộ, phố ẩm thực, chợ đêm… cần có cơ chế đấu giá hoặc tính phí theo hệ số vị trí, khung giờ, loại hình kinh doanh. Bà nhấn mạnh: "Không thể để một vị trí 'vàng' và một vị trí ít lợi thế được tiếp cận bằng cùng một logic định giá".
Bà Nga cũng lưu ý nguồn thu từ vỉa hè phải quay lại phục vụ không gian công cộng: chỉnh trang hè phố, bảo đảm vệ sinh, cây xanh, chiếu sáng, an toàn giao thông, tiện ích cho người đi bộ. Chỉ như vậy, người dân mới thấy việc khai thác tạm thời vỉa hè không phải là đánh đổi lợi ích công cộng cho một nhóm thuê, mà là cơ chế quản lý có kiểm soát, có thu hồi giá trị và tái đầu tư cho cộng đồng.
Luật sư Nguyễn Ngọc Hùng, Đoàn luật sư TP.Hà Nội, đồng quan điểm rằng việc thí điểm cho thuê vỉa hè cần tiếp cận trên nguyên tắc công bằng, minh bạch và sử dụng hiệu quả tài sản công. Ông cho rằng một mét vuông vỉa hè ở phố trung tâm có giá trị thương mại khác hoàn toàn so với phố vùng ven. Áp dụng cùng mức thu cố định tạo bất bình đẳng và thất thoát nguồn lực. Đấu giá là giải pháp phù hợp: "ai đánh giá vị trí đó có khả năng tạo doanh thu cao hơn thì trả mức giá cao hơn".
Kiến trúc sư Đào Ngọc Nghiêm cũng kiến nghị xem xét lại mức phí, yêu cầu thành phố có phụ lục quy định cụ thể từng yếu tố quyết định mức phí tương ứng với từng vị trí, thay vì nêu chung chung.
Việc quản lý vỉa hè nhằm dung hòa giữa lợi ích kinh tế và quyền lợi người đi bộ là bài toán chung của nhiều siêu đô thị. Các đô thị lớn áp dụng kết hợp nhiều biện pháp, từ quy hoạch hạ tầng, cấp phép thu phí đến siết chặt ranh giới pháp lý.
Tại Đài Loan, vấn đề vỉa hè từng gây tranh luận về xe máy và hàng quán lấn chiếm. Đài truyền hình TVBS cho biết chính quyền Đài Bắc đã giải quyết bằng cách sơn "vỉa hè xanh" phân định ranh giới sát lề đường, tăng cường tuần tra và cẩu phương tiện đỗ sai vạch.
Tại Pháp, việc thương mại hóa vỉa hè được kiểm soát chặt bằng công cụ tài chính. Theo AFP và Le Monde, mọi cơ sở kinh doanh tại Paris muốn đặt bàn ghế ngoài trời phải nộp tiền xin giấy phép chiếm dụng không gian (AOT). Mức phí tính theo mét vuông, chủ quán phải chừa lối đi tối thiểu 1,6 m và bị tước giấy phép vĩnh viễn nếu vi phạm ranh giới.
Ở bình diện quy hoạch, Reuters và CNA dẫn chứng thành công của Singapore với mô hình Hawker Centres, di dời hàng rong vào khu ăn uống tập trung có hạ tầng xử lý rác, đưa hoạt động vào diện quản lý có đóng thuế.
Tại Nhật Bản, Đài NHK dẫn luật Giao thông đường bộ cho biết hành vi đặt vật cản trên vỉa hè bị cấm tuyệt đối, mọi ngoại lệ phải xin cấp phép khắt khe từ cảnh sát.



