Sáng 5/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, các đại biểu đã thảo luận tại Tổ về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi). Nhiều ý kiến tập trung vào các quy định nhằm ngăn chặn tình trạng lạm dụng hòa giải để bao che hành vi vi phạm, đặc biệt là trong các vụ bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em.
Lo ngại 'dĩ hòa vi quý' bao che bạo hành
ĐBQH Lưu Thị Thuý Hằng (đoàn Phú Thọ) chỉ ra sự mâu thuẫn tiềm ẩn trong dự thảo luật. Cụ thể, điểm c khoản 1 Điều 3 quy định không hòa giải đối với vi phạm pháp luật bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử lý vi phạm hành chính, nhưng khoản 7 Điều 4 lại nêu nguyên tắc hòa giải không thay thế biện pháp xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự. Theo bà Hằng, quy định này chưa thực sự rõ ràng, dễ dẫn đến cách hiểu khác nhau khi áp dụng.
Thực tế cho thấy, nhiều vụ việc phụ nữ, trẻ em bị bạo hành, xâm hại nghiêm trọng nhưng chính quyền cơ sở lại đưa ra hòa giải với tư duy "dĩ hòa vi quý", tức là "đóng cửa bảo nhau". Hậu quả là kẻ bạo hành thoát tội, nạn nhân tiếp tục bị bạo hành, và các biện pháp bảo vệ khẩn cấp bị trì hoãn. Do đó, bà Hằng đề nghị bổ sung quy định cấm tuyệt đối tại Điều 3: nghiêm cấm sử dụng hòa giải đối với các vụ việc bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em, mua bán người; cấm dùng hòa giải làm công cụ trì hoãn các biện pháp tư pháp để bảo vệ nạn nhân.
Chỉ định hòa giải viên: Cần tránh hành chính hóa
Về cơ chế chỉ định hòa giải viên, dự thảo khoản 3 Điều 9 bổ sung quy định cho phép Chủ tịch UBND cấp xã chỉ định hòa giải viên trong trường hợp bầu không đạt hoặc không đủ số lượng. ĐBQH Lưu Thị Thuý Hằng chia sẻ áp lực này với cơ sở, nhưng nhấn mạnh bản chất của hòa giải viên là uy tín và sự tín nhiệm của nhân dân. Bà nêu: "Nếu chỉ định từ trên xuống mà không có giới hạn, chúng ta sẽ hành chính hóa lực lượng này và tước đi quyền dân chủ của thôn bản". Vì vậy, bà đề nghị bổ sung quy định việc chỉ định chỉ là giải pháp tạm thời, không quá 1 năm, và hết thời hạn, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã phải tổ chức bầu lại.
Hòa giải gắn với văn hóa làng xã, tránh 'chính quy hóa'
ĐBQH Nguyễn Khánh Ngọc (đoàn Tp.Đà Nẵng) nhấn mạnh, hòa giải ở cơ sở là thiết chế gắn bó mật thiết với văn hóa làng xã, tập quán, truyền thống của người Việt Nam, khi mong muốn giải quyết mọi bất đồng bằng đối thoại, thấu hiểu và hướng tới sự bình yên, hài hòa trong cộng đồng. Tuy nhiên, ông bày tỏ băn khoăn khi dự thảo luật có xu hướng "hành chính hóa" hoạt động này. Theo ông, bản chất của hòa giải là sự linh hoạt, gần gũi, không nên bị "chính quy hóa" một cách cứng nhắc.
Ông dẫn kinh nghiệm từ lĩnh vực hòa giải thương mại, nơi điều quan trọng nhất vẫn là có một người đủ uy tín, được các bên tôn trọng để đứng ra trao đổi, giúp các bên tìm được tiếng nói chung. Đó mới là mục tiêu cuối cùng, chứ không nhất thiết phải chuẩn hóa bằng quá nhiều tiêu chí.
Về ứng dụng công nghệ trong hoạt động hòa giải, ông cho rằng cách tiếp cận này xa lạ với thực tiễn. "Người dân cần một hòa giải viên ngay bên cạnh mình, tại sao lại có điều kiện tiêu chuẩn là người này phải ở ngay nơi cư trú?" Ông cảm thấy chúng ta đang đi theo hướng chính quy, hiện đại hóa đội ngũ hòa giải, điều này có thể vô tình biến thiết chế này thành một thiết chế tư pháp.
Đề cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc
ĐBQH Nguyễn Khánh Ngọc tiếp cận dự án luật dưới góc độ đây là một thiết chế xã hội tự quản. Vì vậy, cần đề cao hơn nữa vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu Điều 33 của dự thảo, ông cho rằng vai trò của Mặt trận vẫn còn mờ nhạt, chủ yếu dừng ở việc phối hợp với UBND và thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể là chưa tương xứng. Ông đề nghị: "Tôi nghĩ việc này hoàn toàn có thể giao cho Mặt trận và chỉ giao cho Mặt trận chịu trách nhiệm toàn bộ trong việc chăm lo thiết chế này sẽ phù hợp hơn". Ông nhấn mạnh nên xã hội hóa mạnh mẽ, giao cho Mặt trận chủ trì và chịu trách nhiệm toàn bộ, nhưng chính quyền vẫn có trách nhiệm bảo đảm nguồn lực, điều kiện hoạt động. Ông cũng đề nghị bổ sung quy định đánh giá hiệu quả của thiết chế này trên thực tế, bởi con số hòa giải thành được báo cáo rất lớn nhưng cần có cách đánh giá chính xác.
Mời người có chuyên môn pháp luật tham gia hòa giải
ĐBQH Nguyễn Thị Hồng Hạnh (đoàn Tp.Hồ Chí Minh) quan tâm đến quy định về người được mời tham gia hòa giải. Bà cho biết, Luật hiện hành đã có quy định tại Điều 19 nhưng còn đơn giản, chưa cụ thể, dẫn đến lúng túng khi triển khai. Bà tán thành việc dự thảo luật dành một mục riêng (3 điều) quy định về đối tượng, hình thức tham gia, quyền, nghĩa vụ của người được mời, cũng như trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có người được mời.
Theo bà Hạnh, một trong những hạn chế lớn nhất của lực lượng hòa giải viên hiện nay là kiến thức pháp luật. Hòa giải viên phần lớn là người có uy tín, kinh nghiệm vận động, thuyết phục, nhưng kiến thức pháp luật trong một số lĩnh vực còn hạn chế. Qua tiếp xúc cử tri, bà cho biết không ít hòa giải viên gặp khó khăn với các quy định cơ bản về thừa kế, quyền sở hữu tài sản và các quan hệ dân sự thường phát sinh tại cộng đồng.
"Do đó, việc mời người có chuyên môn pháp luật tham gia hòa giải sẽ tạo ra sự bổ trợ cần thiết. Một bên có uy tín, khả năng thuyết phục; một bên có kiến thức pháp luật. Sự kết hợp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng và tính bền vững của kết quả hòa giải", bà Hạnh phân tích.
Đối với Tp.Hồ Chí Minh, nơi có số lượng luật sư lớn, bà đề nghị nghiên cứu cơ chế huy động lực lượng này tham gia hỗ trợ hòa giải ở cơ sở. Qua đó, vừa nâng cao chất lượng giải quyết vụ việc, vừa giúp hòa giải viên được bồi dưỡng thêm kiến thức pháp luật. Tuy nhiên, để cơ chế hiệu quả, cần bổ sung nguyên tắc lựa chọn người được mời, bảo đảm tính độc lập, khách quan, không có xung đột lợi ích. Chính phủ cũng cần quy định cụ thể về trình tự, thủ tục mời, trách nhiệm của người tham gia và của cơ quan, tổ chức nơi người được mời công tác. Quy định chung về việc "tạo điều kiện" như dự thảo cần được cụ thể hóa để bảo đảm thống nhất khi thực hiện.



