Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 216/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp. Theo đó, cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp bao gồm 3 nhóm thông tin và do Bộ Công an chịu trách nhiệm xây dựng, quản lý, vận hành, bảo vệ và lưu trữ.
Nội dung chính của Nghị định
Nghị định quy định chi tiết Điều 11 về cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và Điều 14 về bảo vệ, lưu trữ cơ sở dữ liệu này. Đồng thời, văn bản hướng dẫn trách nhiệm cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu, lập lý lịch tư pháp, cập nhật thông tin, thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và khai thác, sử dụng thông tin lý lịch tư pháp.
Trách nhiệm của các bộ, ngành
Nghị định quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành trong việc xây dựng, quản lý, vận hành và kết nối cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì tổ chức thực hiện các hoạt động này theo quy định pháp luật. Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng và các cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm chỉ đạo đơn vị trực thuộc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp và Nghị định này.
Các hoạt động xây dựng cơ sở dữ liệu
Hoạt động xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp bao gồm: tiếp nhận, kiểm tra, phân loại và xử lý thông tin; lập Lý lịch tư pháp; cập nhật thông tin vào Lý lịch tư pháp đã lập; điều chỉnh thông tin lý lịch tư pháp của cá nhân trong cơ sở dữ liệu.
Ba nhóm thông tin trong cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp bao gồm các nhóm thông tin sau:
- Thông tin của cá nhân được lập lý lịch tư pháp theo quy định tại khoản 4a Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp. Trong đó, số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu (nếu không có số định danh) được dùng làm thông tin gốc để kết nối, đối soát và đồng bộ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
- Thông tin lý lịch tư pháp về án tích, tình trạng thi hành án, xóa án tích.
- Thông tin về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.
Quy định về lịch sử dữ liệu và kết nối
Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải ghi nhận lịch sử cập nhật, điều chỉnh dữ liệu, bao gồm thời gian, nội dung và chủ thể thực hiện, nhằm phục vụ kiểm tra, đối soát, truy vết nguồn gốc và bảo đảm tính toàn vẹn, minh bạch. Dữ liệu được kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia thông qua các phương thức, nền tảng liên thông, tự động, đảm bảo đúng mục đích, thẩm quyền, phạm vi, đối tượng và tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Dữ liệu lý lịch tư pháp được chia sẻ dưới dạng thông điệp dữ liệu điện tử có giá trị pháp lý theo quy định về giao dịch điện tử.
Nguyên tắc không yêu cầu cung cấp lại thông tin
Cơ quan, tổ chức không được yêu cầu cung cấp lại thông tin lý lịch tư pháp nếu thông tin đó đã có trong cơ sở dữ liệu và đã được kết nối, chia sẻ. Tuy nhiên, nếu cần xác minh tính chính xác hoặc thông tin khai thác chưa đầy đủ, cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu bổ sung thông tin, tài liệu theo quy định pháp luật.
Điều kiện kết nối và chia sẻ dữ liệu
Cơ sở dữ liệu chuyên ngành trước khi kết nối với cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải đảm bảo an ninh, an toàn thông tin và có tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp. Dữ liệu chia sẻ phải được làm sạch, chính xác, đầy đủ, có nguồn gốc hợp pháp, được xác thực theo thẩm quyền và phản ánh đúng hiện trạng pháp lý cùng đầy đủ các trường thông tin.
Thời hạn đồng bộ dữ liệu
Các bộ, ngành trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ có phát sinh nguồn thông tin theo Điều 15, Điều 33 và Điều 36 Luật Lý lịch tư pháp có trách nhiệm tạo lập, cập nhật ngay thông tin và số hóa dữ liệu vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành để chia sẻ, đồng bộ với cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp do Bộ Công an quản lý. Việc đồng bộ phải được thực hiện trong thời gian không quá 1 ngày làm việc kể từ khi thông tin được cập nhật vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành.



