Kết luận giám định tư pháp là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng trong giải quyết vụ án, giúp điều tra, truy tố, xét xử chính xác, khách quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều bất cập, đặc biệt trong các vụ án ma túy.
Thực trạng giám định tư pháp trong vụ án ma túy
Theo Tiến sĩ Huỳnh Đông Bắc, Phó Hiệu trưởng-Giám đốc Phân hiệu Trường đại học Kiểm sát tại Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2019-2023, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xét xử hơn 15 nghìn vụ án ma túy với gần 10 nghìn người phạm tội, trong đó tội tàng trữ và mua bán trái phép chiếm 96,6% tổng số vụ. Tính đến tháng 4/2025, toàn quốc có gần 370 nghìn người nghiện, người sử dụng trái phép, người nghi sử dụng và người bị quản lý sau cai.
Thực tiễn giám định tư pháp trong các vụ án ma túy tồn tại nhiều bất cập: thiếu giám định viên chuyên môn cao tại các tỉnh, cơ sở kỹ thuật hạn chế, thiếu mẫu chuẩn cho ma túy tổng hợp mới, thời gian giám định kéo dài, phối hợp giữa cơ quan điều tra và tổ chức giám định chưa hiệu quả. Cả nước chỉ có Viện Khoa học hình sự (Bộ Công an) đủ năng lực giám định hàm lượng chất ma túy, dẫn đến quá tải và tồn đọng án.
Thông tư liên tịch 02/2026: Quy định mới về giám định tư pháp
Liên ngành Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 02/2026/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC quy định về trưng cầu, yêu cầu giám định và đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp trong giải quyết vụ việc, vụ án hình sự. Thông tư được xây dựng trên cơ sở Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Giám định tư pháp năm 2025, nhằm thống nhất quy trình giám định từ trưng cầu đến sử dụng kết luận.
Theo Thông tư, việc trưng cầu, yêu cầu giám định phải bảo đảm khách quan, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục, thực hiện kịp thời sau khi thu thập đối tượng giám định để tránh biến đổi, mất mát hoặc hư hỏng dấu vết. Nguyên tắc xuyên suốt là đối tượng giám định phải được thu thập, bảo quản, niêm phong, vận chuyển, giao nhận theo đúng quy định, bảo đảm tính toàn vẹn của chứng cứ.
Phân cấp trưng cầu và chuyển đổi số trong giám định
Thông tư quy định phân cấp trưng cầu giám định giữa cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương và địa phương. Vụ án đặc biệt phức tạp, liên quan nhiều tỉnh, thành phố hoặc vượt quá khả năng chuyên môn của tổ chức giám định địa phương có thể trưng cầu tổ chức giám định tư pháp ở Trung ương.
Thông tư bổ sung quy định mới: trưng cầu giám định bằng mẫu đại diện đối với vật chứng số lượng lớn; giám định tại chỗ đối với hiện trường, công trình, dây chuyền sản xuất, hệ thống kỹ thuật, hạ tầng số không thể di chuyển; quy định chi tiết về niêm phong, mở niêm phong vật chứng và giao, nhận hồ sơ bằng phương thức điện tử. Thông tư cũng tạo cơ sở pháp lý cho chuyển đổi số khi cho phép quyết định trưng cầu giám định được ký số, gửi qua phần mềm chuyên dụng; hồ sơ, tài liệu chuyển dưới dạng dữ liệu điện tử và quản lý bằng định danh điện tử, góp phần rút ngắn thời gian giải quyết vụ án.
Kết luận giám định chỉ là một nguồn chứng cứ
Thông tư dành một chương quy định về đánh giá và sử dụng kết luận giám định. Theo đó, kết luận giám định phải được xem xét trên ba phương diện: tính hợp pháp, tính chính xác khách quan, tính liên quan và toàn diện với toàn bộ hệ thống chứng cứ. Thông tư nhấn mạnh kết luận giám định chỉ là một trong những nguồn chứng cứ, không tách rời khỏi các chứng cứ khác như lời khai, vật chứng, dữ liệu điện tử, biên bản tố tụng.
Đối với Tòa án, đây là cơ sở pháp lý để Hội đồng xét xử đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện, tránh tuyệt đối hóa kết luận giám định. Nếu kết luận giám định thiếu căn cứ khoa học, không rõ ràng, mâu thuẫn hoặc không thể kiểm chứng thì không được sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án. Trường hợp kết luận giám định mâu thuẫn với chứng cứ khác, cơ quan tiến hành tố tụng không được loại bỏ bất kỳ nguồn chứng cứ nào mà phải áp dụng biện pháp tố tụng như đối chất, thực nghiệm điều tra, thu thập bổ sung chứng cứ hoặc trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại hoặc giám định Hội đồng.
Thông tư cũng quy định kết luận giám định theo yêu cầu của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được xác định là nguồn chứng cứ nếu tuân thủ đúng quy định. Quy định này góp phần bảo đảm quyền tranh tụng, tạo cơ sở để Tòa án xem xét, đối chiếu, đánh giá toàn diện các nguồn chứng cứ.
Trách nhiệm các chủ thể trong hoạt động giám định
Thông tư làm rõ trách nhiệm của từng chủ thể: Cơ quan điều tra có trách nhiệm trưng cầu giám định đúng đối tượng, đúng nội dung, bảo đảm thu thập, bảo quản vật chứng. Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát việc trưng cầu, yêu cầu giám định, đánh giá và sử dụng kết luận giám định. Tòa án căn cứ kết luận giám định cùng các chứng cứ hợp pháp khác để xem xét, đánh giá toàn diện trước khi ra bản án, quyết định.
Những quy định mới được kỳ vọng tăng cường phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng và tổ chức giám định tư pháp, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để Tòa án đánh giá đúng giá trị của kết luận giám định, bảo đảm giải quyết vụ án hình sự khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.



