Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang: 80 năm công tác dân tộc - Hành trình vững chắc khối đại đoàn kết
80 năm công tác dân tộc: Hành trình vững chắc khối đại đoàn kết

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc (3/5/1946 - 3/5/2026), Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang đã có cuộc trao đổi với báo chí về những dấu mốc quan trọng, thành tựu nổi bật cũng như định hướng phát triển trong thời gian tới.

Những dấu mốc quan trọng trong 80 năm công tác dân tộc

Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang nhấn mạnh, vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đại đoàn kết các dân tộc luôn được Đảng, Nhà nước xác định là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước. Trong suốt các giai đoạn lịch sử, công tác dân tộc luôn gắn chặt với nhiệm vụ trung tâm của đất nước.

Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, trọng tâm là củng cố niềm tin, xây dựng chính quyền cách mạng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Sau năm 1954, hệ thống tổ chức được kiện toàn, từng bước nâng tầm, thể hiện rõ vị trí ngày càng quan trọng của công tác dân tộc trong quản lý nhà nước.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Trong kháng chiến chống Mỹ, công tác dân tộc ở miền Bắc vừa tham mưu chính sách, chăm lo đời sống đồng bào, vừa huy động sức dân, góp phần xây dựng hậu phương vững chắc, tạo nên sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Công tác dân tộc ở miền Nam (1954-1975) tập trung xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp các dân tộc, tôn giáo và tầng lớp nhân dân, với trọng tâm là thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960), vận động đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên và vùng căn cứ cách mạng tham gia kháng chiến.

Trong thời kỳ hòa bình, xây dựng và phát triển đất nước, đại đoàn kết các dân tộc tiếp tục là nền tảng của ổn định chính trị, là động lực quan trọng của phát triển và nâng cao vị thế quốc gia. Cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc không chỉ là cơ quan tham mưu chính sách, mà còn là cầu nối trực tiếp, mang tiếng nói, tâm tư, nguyện vọng của đồng bào đến với Đảng, Nhà nước.

Các dấu mốc chính sách chiến lược

Nhiều dấu mốc chính sách có ý nghĩa chiến lược đã định hình rõ hướng đi của công tác dân tộc. Nghị quyết 22-NQ/TW năm 1989 mở ra tư duy phát triển kinh tế hàng hóa vùng miền núi, được Hội đồng Bộ trưởng thể chế hóa tại Quyết định 72/HĐBT năm 1990. Chương trình 135 từ năm 1998 tạo “cú hích” đầu tư quy mô lớn. Nghị quyết 24-NQ/TW năm 2003 xác lập chiến lược dài hạn. Kết luận 65-KL/TW năm 2019 tiếp tục hoàn thiện nhận thức và định hướng về công tác dân tộc trong tình hình mới.

Đặc biệt, việc Quốc hội ban hành Nghị quyết 88 và Nghị quyết 120, cùng với việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030 đã đánh dấu bước chuyển quan trọng, từ chính sách đơn lẻ sang cách tiếp cận tổng thể, tích hợp và dài hạn.

Một dấu mốc đặc biệt quan trọng là việc thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo năm 2025. Đây không chỉ là sự kiện tổ chức bộ máy, mà còn thể hiện bước phát triển mới trong tư duy quản lý nhà nước, đặt công tác dân tộc và tôn giáo trong một chỉnh thể thống nhất, gắn bó hữu cơ với mục tiêu củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Thành tựu nổi bật giai đoạn 2021-2025

Trong tháng 3/2026, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã tổng kết công tác dân tộc giai đoạn 2021-2025. Những kết quả đạt được trong 5 năm gần đây không chỉ là thành tựu của một giai đoạn, mà là sự kết tinh của cả hành trình 80 năm kiên trì, nhất quán về đường lối và chính sách.

Kinh tế vùng đồng bào DTTS và MN duy trì tăng trưởng khá, nhiều khu vực đạt cao hơn mức bình quân cả nước: vùng Tây Bắc trên 8%/năm, Tây Nguyên khoảng 7,5%/năm, Tây Nam Bộ trên 7%/năm (so với mức tăng GDP cả nước năm 2024 là 7,09%).

Giảm nghèo tiếp tục là một trong những thành tựu nổi bật. Nếu như năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm 29% tổng số hộ dân tộc thiểu số thì đến cuối năm 2025 giảm còn 9,71%. Thành tựu này là kết quả tích hợp từ các chương trình, chính sách đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, nhất là Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 (Chương trình MTQG 1719).

Về đầu tư phát triển bền vững, vốn Chương trình MTQG 1719 đã đầu tư 6.018 công trình giao thông, 442 công trình điện, 1.787 nhà văn hóa, khu sinh hoạt cộng đồng, 986 công trình thủy lợi nhỏ, 281 chợ, đồng thời duy tu, bảo dưỡng 5.484 công trình hạ tầng. Thực hiện Dự án 1 của Chương trình, đã hỗ trợ đất ở cho 10.549 hộ, đất sản xuất cho 13.387 hộ, chuyển đổi nghề cho 54.999 hộ, hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 479.358 hộ và xây dựng 809 công trình nước sinh hoạt tập trung.

Một điểm nhấn trong năm 2025 và cả giai đoạn 2021-2025 là chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước vượt 230% kế hoạch, hoàn thành trước 5 năm 4 tháng so với mục tiêu. Cùng với kinh tế, nguồn lực đầu tư từ các chương trình, dự án cũng tạo chuyển biến rõ nét trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Điểm nổi bật là việc triển khai chính sách miễn, hỗ trợ học phí từ mầm non đến phổ thông từ năm học 2025–2026 và định hướng đầu tư 248 trường nội trú, bán trú liên cấp tại các xã biên giới. Tính riêng trong lĩnh vực văn hóa, từ vốn Chương trình MTQG 1719 đã đầu tư 3.220 nhà văn hóa – khu thể thao, 69 điểm đến du lịch truyền thống, bảo tồn 124 lễ hội truyền thống.

Bài học kinh nghiệm từ 80 năm công tác dân tộc

Qua 80 năm, công tác dân tộc đã đúc kết nhiều bài học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Trước hết, đại đoàn kết các dân tộc là truyền thống ngàn đời, là vốn quý, nền tảng căn bản và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam. Thứ hai, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phải đặt trong tầm nhìn chiến lược dài hạn, trong đó người dân vừa là chủ thể, mục tiêu, trung tâm và vừa là động lực của quá trình phát triển. Thứ ba, phải kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa. Và bài học có tính bao trùm: Vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, toàn quân là nhân tố quyết định hiệu quả của công tác dân tộc.

Thách thức và giải pháp trong bối cảnh mới

Hiện nay, cả nước có 14,7 triệu đồng bào DTTS, gần 28 triệu đồng bào có đạo. Sau sáp nhập hành chính, cả nước có 1.514 xã ở vùng biên giới, chiếm tỷ lệ 45% số xã phường. Trong số gần 34.000 thôn vùng DTTS và MN tại 32 tỉnh, thành phố, có tới hơn 13.000 thôn đặc biệt khó khăn. Quy mô, phạm vi và tính chất của công tác dân tộc ngày càng mở rộng và phức tạp.

Khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với mặt bằng chung của cả nước vẫn còn thấp hơn đáng kể. Tính bền vững của sinh kế chưa cao; nguồn lực đầu tư còn phân tán; cơ chế phối hợp chưa thật sự đồng bộ. Tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai, sạt lở, dịch chuyển dân cư ngày càng rõ nét. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng đa dạng, với nhiều vấn đề mới phát sinh, nhất là trên không gian mạng.

Để đối phó với những thách thức này, Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang cho biết cần tập trung các nhóm giải pháp: hoàn thiện thể chế, chính sách; phát triển kinh tế và sinh kế bền vững; phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu và kết nối số; giải quyết dứt điểm các "điểm nghẽn" mang tính đặc thù; phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội cơ bản; đầu tư, hỗ trợ các mô hình bảo tồn văn hóa gắn với phát triển.

Định hướng trọng tâm trong thời gian tới

Bộ Dân tộc và Tôn giáo xác định, hoàn thiện thể chế là tiền đề khơi thông mọi nguồn lực. Trước hết là tổng kết, đánh giá kết quả triển khai Nghị quyết số 24-NQ/TW và Kết luận số 65-KL/TW, trên cơ sở đó đề xuất ban hành một nghị quyết mới. Bộ cũng sẽ nhanh chóng triển khai Nghị quyết Đại hội 14 của Đảng về các nội dung liên quan đến công tác dân tộc; tập trung hướng về cơ sở, giải quyết các vấn đề cơ bản, cấp bách. Bên cạnh đó, tiếp tục xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định về công tác dân tộc (thay thế Nghị định số 05/2011/NĐ-CP); các nghị định hướng dẫn Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi); Nghị định về tiêu chí lựa chọn, công nhận người có uy tín. Bộ cũng phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện văn bản hướng dẫn triển khai Chương trình MTQG giai đoạn 2026-2030, phân cấp mạnh hơn cho địa phương. Đồng thời, đẩy mạnh hoàn thành cơ sở dữ liệu về dân tộc, tôn giáo, kết nối với cơ sở dữ liệu dân cư.

Lời kêu gọi đoàn kết và phát triển

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm, Bộ trưởng Nguyễn Đình Khang gửi tới đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào các tôn giáo lời thăm hỏi chân tình và những lời chúc tốt đẹp nhất. Ông nhấn mạnh thông điệp: đoàn kết, tin tưởng và cùng phát triển. Bộ trưởng mong đồng bào tiếp tục tin tưởng vào đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chủ động, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa, xây dựng đời sống “tốt đạo, đẹp đời”. Ông cũng mong các tổ chức tôn giáo tiếp tục phát huy vai trò tích cực trong xã hội, lan tỏa các giá trị nhân văn, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bộ trưởng chia sẻ lại lời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Giữ cho bản làng bình yên cũng chính là góp phần giữ vững sự ổn định chung của đất nước; cùng nhau đổi mới nếp nghĩ, cách làm để phát triển bền vững quê hương, đất nước; tiếp tục vận động bà con phát huy tinh thần tự lực, chủ động vươn lên, phát triển kinh tế gia đình, xóa bỏ hủ tục, xây dựng đời sống văn minh.

Kỷ niệm 80 năm không chỉ là dịp nhìn lại, mà còn là điểm khởi đầu cho một chặng đường mới với quyết tâm cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn. Bộ trưởng tin tưởng rằng, với truyền thống đoàn kết và ý chí vươn lên, đồng bào các dân tộc và các tôn giáo sẽ tiếp tục đóng góp quan trọng vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.