Ít ngày sau đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Đại tá Tư Cang nặng trĩu nỗi buồn. Ông nghĩ đến trận đánh không cân sức vào Dinh Độc Lập, những thi thể bê bết bùn lầy, thương binh nằm rên rỉ trên những cánh đồng Bình Mỹ (Củ Chi), hay cảnh cán bộ xã vừa đào huyệt chôn đồng đội vừa khóc. "Vài hôm sau ngày nổ súng, tôi điện về cấp trên, nói rằng: 'Tiêu hết rồi các anh ơi', bởi đi đâu cũng thấy anh em cách mạng bị bắt hoặc hy sinh", vị đại tá 99 tuổi kể với phóng viên Dân trí.
Trong thời khắc lịch sử đó, người đồng đội đặc biệt của ông Tư Cang - Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn - thu thập được những thông tin chiến lược, giải mã tâm lý đối phương, thay đổi nhận định về thiệt hại ban đầu và giúp cách mạng nhìn được bức tranh lớn hơn.
Bốn tiếng đồng hồ với bản cung của kẻ phản bội
Tháng 4/1968, trong căn hầm đóng tại Củ Chi, ông Tư Cang nhận được bức điện tối khẩn từ đồng chí Sáu Trí (tức Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm, Trưởng phòng Tình báo của Bộ Tham mưu miền) gửi đến. Mệnh lệnh ngắn gọn: "Một cán bộ cao cấp của ta vừa ra đầu hàng địch. Đồng chí vào Sài Gòn xem hắn khai những gì, việc rất gấp".
Từ chiến khu An Thành, Đại tá Tư Cang lập tức được giao thông viên đưa ra nội thành. Hai ngày sau, ông có mặt tại Sài Gòn. Nhiệm vụ gấp rút, nhưng đầu tiên phải biết: Cán bộ vừa ra đầu hàng là ai? Đó là sáng 23/4/1968, trên những số báo mới nhất của Sài Gòn đồng loạt hiện lên hàng tít lớn về vụ chiêu hồi của Trung tá Trần Văn Đắc, tức Tám Hà - Phó chủ nhiệm Chính trị cánh quân phía Bắc Sài Gòn. Trên báo là ảnh Tám Hà đứng bên tướng Phạm Quốc Thuần của quân đội Sài Gòn và tướng William Westmoreland - Tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Việt Nam.
"Một cán bộ cỡ đó đầu hàng địch chắc chắn sẽ gây không ít khó khăn cho chúng ta", ông Tư Cang nhận định. "Hắn nắm được kế hoạch tác chiến, tình hình quân số, công tác hậu cần, lương thực, đạn dược và nhiều nội dung chuẩn bị cho đợt tiến công sắp diễn ra. Việc cấp bách lúc đó là phải biết hắn đã khai những gì".
Người đầu tiên mà Đại tá Tư Cang nghĩ đến trong kế hoạch gấp rút tìm ra bản cung của Tám Hà là điệp viên Phạm Xuân Ẩn. Ông gập tờ báo, trả tiền tách cà phê rồi vội vã chạy xe đến Ngã tư Hàng Xanh. Đến đây, ông lại bắt xe ôm, đi về hướng trung tâm Sài Gòn, tiếp tục đổi xe một lần nữa để đến quán cà phê Givral nơi Phạm Xuân Ẩn thường có mặt. Sau khi nghe chỉ huy Tư Cang trình bày nhiệm vụ, ông Phạm Xuân Ẩn suy nghĩ một lúc rồi nhận định bản khai của Tám Hà nhiều khả năng đang nằm trong hồ sơ của Tiểu khu Gia Định - nơi trực tiếp tham gia điều tra vụ việc.
Lợi thế lớn của Phạm Xuân Ẩn là mạng lưới quan hệ được ông dày công xây dựng trong nhiều năm. Với tư cách một nhà báo Mỹ có tiếng, ông có quen biết rộng rãi với giới quân sự, tình báo và hành chính của chính quyền Sài Gòn. Trong số đó có một trung sĩ làm việc tại dinh Tỉnh trưởng Gia Định - nguồn tin thường xuyên cung cấp tài liệu cho ông Ẩn và được ông Ẩn cho tiền rất hậu hĩnh.
"Tôi đứng đợi bên đường, còn Phạm Xuân Ẩn đi vào dinh tỉnh trưởng Gia Định tìm gặp tên sĩ quan. Một lúc sau, tên sĩ quan đi ra, giở vạt áo sơmi, đưa ra một tập tài liệu. Hắn nói đồng ý cho Phạm Xuân Ẩn mượn xem, nhưng với một điều kiện là đúng 13h kém 15 phút phải mang lại trả, đề phòng cấp trên hỏi đến mà không có là 'to chuyện'", Đại tá Tư Cang kể.
Nhìn đồng hồ trên tay, ông Tư Cang thở phào. Mới 10h sáng. Ông vẫn còn đủ thời gian để hoàn trả tập hồ sơ trước thời hạn 2h chiều như đã hứa. Mang tài liệu về nhà cơ sở của điệp viên Tám Thảo, ông lập tức lấy máy ảnh chụp lại toàn bộ 5 trang bản cung. Chỉ khoảng 15 phút sau, nhiệm vụ mà cấp trên giao phó đã hoàn thành. Từ lúc có mặt ở Sài Gòn đến khi gặp Phạm Xuân Ẩn và có được bản sao lời khai của Tám Hà trong tay, cụm H.63 chỉ mất vỏn vẹn vài giờ đồng hồ.
Nhưng càng đọc bản cung của tên phản bội, ông Tư Cang càng thấy lo lắng. Hắn ta gần như khai sạch những gì mình biết: tình hình lực lượng, điều kiện sinh hoạt của bộ đội, các khu vực ém quân, công tác hậu cần và cả sự chuẩn bị cho đợt Tổng tiến công thứ hai. Nhiều địa điểm cất giấu vũ khí ở Củ Chi, Hóc Môn cùng các trận địa pháo DKB dự kiến tập kích sân bay Tân Sơn Nhất cũng đã bị lộ. Nếu chỉ nhìn vào bản cung, người ta có thể đi đến kết luận: kế hoạch của Quân giải phóng đang đứng trước nguy cơ bị phá vỡ.
Nhưng với Đại tá Tư Cang và Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn, họ cần lời giải cho một câu hỏi quan trọng hơn. Phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn đang nghĩ gì sau khi Tám Hà chiêu hồi và có trong tay những lời khai nguy hiểm ấy?
Cuộc đấu trí để "đọc vị" đối phương
Sao chụp xong bản cung, chỉ huy Tư Cang và điệp viên Phạm Xuân Ẩn lao vào một cuộc chạy đua khác. Lần này, mục tiêu là thăm dò tâm lý, động thái của Washington và chính quyền Sài Gòn. Ngay trong buổi chiều 23/4/1968, Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn có mặt trong khách sạn Continental, tìm gặp giới chức Mỹ và những nhà quan sát quốc tế. Vài giờ sau, ông Ẩn trở lại gặp Tư Cang với một thông tin khiến vị chỉ huy H.63 đặc biệt chú ý. Một nguồn tin tình báo Mỹ tiết lộ rằng, Tổng thống Johnson đã được phía Sài Gòn báo cáo đầy đủ về vụ Tám Hà đầu hàng cùng những lời khai liên quan đến kế hoạch tiến công đợt 2.
Theo nguồn tin này, Johnson cho rằng nếu Quân giải phóng tiếp tục mở được một đợt tấn công mới vào Sài Gòn, nước Mỹ sẽ đứng trước sức ép buộc phải thương lượng và rút quân. Ông Tư Cang nhớ lại, lúc báo cáo tình hình, ông Ẩn ghé sát lại như muốn chia sẻ thêm một bí mật đặc biệt với vị chỉ huy: "Lời khai của Tám Hà khiến giới chức Mỹ bối rối. Tên tình báo Mỹ nói với tôi rằng Tổng thống Johnson đã ra lệnh cho Tướng William Westmoreland rằng bằng mọi giá không để Việt Cộng mở được đợt tấn công thứ hai vào Sài Gòn. Chúng đã đọc kỹ lời khai của tên đầu hàng. Chúng muốn tuyên truyền về vụ Tám Hà để ta biết mọi kế hoạch lộ rồi, các ông đánh đấm gì nữa? Ý nói rằng quân ta đừng dại dột mà đánh tiếp".
Đối với Đại tá Tư Cang, đây là một thông tin quan trọng có ý nghĩa chiến lược. Lắng nghe những phân tích từ Phạm Xuân Ẩn, vị chỉ huy quyết định phải báo cáo ngay về cấp trên. Đêm đó, ông ngủ lại Sài Gòn. Sáng hôm sau, một cô giao liên nội thành đưa ông về thị trấn Hóc Môn, nơi có một chiếc xe ôm đợi sẵn. Từ đây, một chiến sĩ mật đã chờ sẵn để tiếp tục đưa ông về căn cứ. Sau nhiều chặng đường vòng qua các ấp chiến lược và cơ sở cách mạng, tối cùng ngày ông mới tới được căn cứ Bến Đình bên sông Sài Gòn.
Ngay trong đêm, tại trạm vô tuyến điện của đơn vị, Tư Cang viết một bức điện khẩn gửi về Phòng Tình báo miền. Bức điện nêu: "Tôi - Tư Cang, cụm trưởng H.63. Nhiệm vụ đã hoàn thành, giao thông đang chuyển hỏa tốc bản cung của Tám Hà và báo cáo của tôi về Phòng. Xin báo cáo thêm có thông tin chiến lược do HT (tức Hai Trung - Phạm Xuân Ẩn) cung cấp: Tổng thống Johnson rất lo ngại khả năng Quân giải phóng mở đợt tấn công thứ hai".
Ngoài bức điện khẩn, ông còn viết tay một bản báo cáo chi tiết gửi theo đường giao liên. Vị chỉ huy tình báo phân tích trong báo cáo, đợt 1 cuộc tổng tấn công Mậu Thân diễn ra vào cuối tháng 1, thì cuối tháng 3, ông Johnson tuyên bố không tranh cử tổng thống nhiệm kỳ mới để tập trung giải quyết các vấn đề Việt Nam. Lúc này, ông Johnson chịu sức ép lớn từ dư luận Mỹ. Phong trào phản chiến lan rộng. Những hình ảnh về cuộc chiến ở Việt Nam xuất hiện dày đặc trên truyền hình và báo chí phương Tây, làm lung lay niềm tin của người dân Mỹ vào những tuyên bố lạc quan trước đó của Nhà Trắng. Nếu Sài Gòn tiếp tục bị tấn công, Washington sẽ đứng trước sức ép ngày càng lớn phải xuống thang chiến tranh, bước vào thương lượng và từng bước rút quân khỏi Việt Nam.
Từ những phân tích đó, Đại tá Tư Cang mạnh dạn đề xuất với cấp trên: "Tôi cho rằng, nếu mọi công tác chuẩn bị đã hoàn tất, ta nên chấp nhận hy sinh để mở thêm một đợt tiến công nữa bằng lực lượng lớn, nhưng phải có kế hoạch để bảo vệ lực lượng, tránh tiêu hao quân số".
Nhiều năm sau, ông Tư Cang vẫn nhớ tốc độ làm việc khẩn trương của mạng lưới tình báo lúc bấy giờ. Tám Hà ra hàng ngày 19/4/1968. Ngày 20/4, cấp trên gửi chỉ thị khẩn. Ngày 21/4, ông trở vào Sài Gòn. Chỉ ít ngày sau, bản khai của Tám Hà cùng báo cáo phân tích chiến lược đã được chuyển về căn cứ. Cùng thời điểm, giới báo chí phương Tây cũng đưa ra những phân tích về lời khai của tay phản bội Tám Hà và kế hoạch đợt 2 bị lộ. Một trang báo ngày 30/4/1968 nhận định, "giờ mà Quân Giải phóng tấn công thật, khi mà Mỹ và đồng minh đã có chuẩn bị, thì thậm chí còn sốc hơn nữa".
"Ngón đòn Mậu Thân sẽ còn ngấm dài"
Trong cuốn "Điệp viên Z.21 - Kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ", tác giả Thomas A.Bass ví von sự nghiệp tình báo của Thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn như "chiếc chuông trên cổ con mèo Mỹ". Mỗi chuyển động của đối phương, từ những cuộc họp kín, thay đổi chiến lược đến tâm lý của giới lãnh đạo Washington, đều có thể được ông Ẩn quan sát, phân tích và kín đáo "báo động", chuyển về căn cứ. Trong đó, những đóng góp trong đợt Tổng tiến công Xuân Mậu Thân được xem đỉnh cao sự nghiệp tình báo của vị thiếu tướng.
"Phải nói rằng, những thông tin từ anh Phạm Xuân Ẩn năm 1968 rất kịp thời, có giá trị về mặt chiến lược. Anh Ẩn kết luận, phải đánh cho sập ý chí của kẻ thù. Trên võ đài, đối thủ mới ăn một cú đấm thôi thì chưa chịu thua. Phải bồi thêm một cú nữa thì nó mới gục", Đại tá Tư Cang kể về chiến công của đồng đội.
Ít ngày sau khi H.63 gửi báo cáo về căn cứ, cấp trên phản hồi ngắn gọn: "Báo cáo rất tốt và kịp thời". Trước đó, lãnh đạo cách mạng vẫn còn tranh luận xem có nên đánh tiếp hay không. Nhờ bản phân tích của H.63, tất cả đều đồng ý đánh tiếp. Chưa đầy hai tuần sau, đêm 4 rạng sáng 5/5, tiếng súng của đợt Tổng tiến công lần thứ hai lại vang lên trên khắp miền Nam. Dù không tạo được hiệu ứng bất ngờ như đợt đầu, cuộc chiến vẫn tạo nên không khí căng thẳng, giằng co. Lần này, Quân giải phóng đưa vào những đơn vị lớn, đánh quy mô lớn. Mặc dù phía địch có phi cơ, pháo binh yểm trợ, các chiến sĩ ta vẫn dũng cảm, ngoan cường, gây nhiều thiệt hại cho địch.
Đại tá Tư Cang lý giải, phía sau những thiệt hại quân sự có những bức tranh lớn hơn. Chính Phạm Xuân Ẩn là người đã góp phần làm thay đổi cách ông nhìn nhận kết quả chiến dịch. "Chúng ta có thể thất bại về mặt quân sự, nhưng thắng trong cuộc chiến tâm lý và chính trị. Dư luận Mỹ sẽ giúp chúng ta về lâu dài", đó là điều mà điệp viên X6 liên tục nhấn mạnh trong các bản phân tích. Đây cũng là chìa khóa giúp Trung ương hiểu vì sao Tổng thống Johnson phải đi tới Hiệp định Paris để tìm kiếm hòa bình.
Tháng 8/1968, sau khi đợt tiến công thứ hai kết thúc, ông Tư Cang tiếp tục bám trụ ở Sài Gòn để làm một nhiệm vụ khác: Tìm hiểu nước Mỹ sẽ đi bước nào tiếp theo sau hai cú sốc Xuân Mậu Thân. Ông Phạm Xuân Ẩn gợi ý, họ cần gặp Đại tá Lân, một sĩ quan đang công tác tại Bộ Tổng tham mưu của chính quyền Sài Gòn. Lân có quan hệ rộng với các sĩ quan cấp cao Mỹ và thường xuyên tham dự các cuộc trao đổi về chiến lược nên hiểu khá rõ những tranh luận đang diễn ra trong nội bộ quân đội Mỹ. Dù không được trọng dụng dưới thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Lân khá cởi mở với Phạm Xuân Ẩn - phóng viên thường trú của một tờ báo lớn của Mỹ mà ông ta coi là người bạn có thể trao đổi thẳng thắn về thời cuộc.
Trong quán cà phê, viên sĩ quan không còn vẻ tự tin như trước. Sau một hồi phân tích, ông ta chậm rãi nói: "Nói một cách văn vẻ cho ông dễ hiểu thì thế này: Đợt đầu, Việt Cộng đánh tan ý chí của người Mỹ. Đợt hai, họ đánh để thúc đẩy tâm lý rã rời của nước Mỹ". Ông ta ngừng lại một lúc rồi nói tiếp: "Rồi Mỹ và đồng minh sẽ lần lượt rút hết. Chỉ còn mình đối đầu với Việt Cộng. Đông người đánh còn không thắng, huống chi sau này chỉ còn lại mình". Nói đến đó, mặt ông ta buồn xo như nghĩ về số phận những ngày phía trước, rồi buột miệng bằng tiếng Pháp: "C'est fini..." (Tạm dịch: "Thế là hết").
Mùa thu năm 1968, trong chuyến trở lại Củ Chi, ông Tư Cang ghé thăm một gia đình nông dân từng là cơ sở cách mạng. Bên mâm cơm chỉ có vài món quê cùng mấy chén rượu, những người lớn tuổi kể với ông rằng, từ sau Tết Mậu Thân, hầu như đêm nào cũng có những chiếc xuồng chở thương binh và tử sĩ từ mặt trận Sài Gòn xuôi về. Dọc những con rạch vùng ven, tiếng chèo khua nước vang lên nặng trĩu. Các cụ già ngồi trước hiên nhà, mắt hướng theo dòng nước. Không ai nói ra, nhưng ai cũng đang nghĩ đến những người con đã rời làng đi đánh giặc ở khắp nẻo đường Tổ quốc. Liệu đến ngày đất nước hòa bình, họ có còn trở về?
Giữa bầu không khí suy tư, ông Tư Cang tiếp thêm hy vọng cho bà con. Ông kể, Tổng thống Mỹ tuyên bố không tái tranh cử, tuyên bố không ném bom miền Bắc. Tướng William Westmoreland rời chiến trường. Mỹ cũng bắt đầu tìm cách mở các kênh tiếp xúc với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từng bước chuyển sang giai đoạn "vừa đánh, vừa đàm". Thế rồi, trước khi tạm biệt bà con để về căn cứ, ông Tư Cang cầm bình rượu lên, kính cẩn đưa các ông già mỗi người 1 ly. "Xin uống với cháu 1 ly tạm biệt này, kính chúc bác Tư, bác Út, dượng Hai, chú Sáu mạnh giỏi, sống lâu. Cháu nghĩ, cuộc chiến còn gian khổ, nhưng thế xuống thang của Mỹ bắt đầu rồi. Ngón đòn Mậu Thân sẽ còn ngấm dài dài trong kẻ địch...", ông nói. Mọi người cười phấn khởi, 5 ly rượu được uống cạn ngon lành...
Trao đổi với phóng viên Dân trí, Đại tá Tư Cang nói thêm, tại Lễ kỷ niệm 50 năm Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân diễn ra tháng 1/2018, ông tự hào phát biểu về những đóng góp của ngành tình báo đối với chiến dịch lịch sử. "Lượt đầu diễn ra, tôi bi quan, vì đi đâu cũng thấy anh em bị bắt, hy sinh. Chỉ có trận ở Đại sứ quán Mỹ là làm nên chuyện. Nhưng qua những tài liệu thu thập được về sự tác động chính trị, thái độ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, tôi và Phạm Xuân Ẩn đi đến nhận định: Sự hy sinh, tổn thất trong Xuân Mậu Thân là đáng giá", ông Tư Cang nói.
Gần 60 năm sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, cuộc tìm kiếm hố chôn tập thể các chiến sĩ hy sinh năm 1968 tại khu vực Công viên Lê Thị Riêng đang được các cơ quan chức năng TPHCM gấp rút thực hiện. Theo dõi thông tin cuộc tìm kiếm, Đại tá Tư Cang rưng rưng xúc động. Chiến dịch Mậu Thân 1968 đạt được những thành công chiến lược, nhưng cũng phải đánh đổi bằng hy sinh to lớn của lực lượng biệt động, đặc công và các đơn vị bộ đội chủ lực trên toàn miền Nam. Chỉ tính riêng lực lượng biệt động tham gia đánh 5 mục tiêu tại Sài Gòn trong đợt 1, số lượng hy sinh là 61/88 chiến sỹ. Tính cả lực lượng bộ đội chủ lực, quần chúng nổi dậy, con số thương vong lên tới hàng nghìn người. Theo ông, việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ hôm nay không chỉ để xác định danh tính những người đã khuất, mà chính là sự tri ân đối với thế hệ đi trước đã hiến dâng tuổi xuân, máu xương cho độc lập, thống nhất đất nước.



