Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội qua các giai đoạn lịch sử
Đảng hoàn thiện lý luận chủ nghĩa xã hội qua các giai đoạn

Bên cạnh sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác lý luận. Điều này bao gồm nghiên cứu lý luận, giáo dục lý luận, truyền bá lý luận và đào tạo đội ngũ cán bộ lý luận chuyên sâu. Qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhận thức lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam đã từng bước được bổ sung và hoàn thiện, đặc biệt là từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới.

Những câu hỏi lớn từ thực tiễn Việt Nam

Như đồng chí cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát, Đảng ta tập trung trả lời những câu hỏi cốt lõi từ thực tiễn: Chủ nghĩa xã hội là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới và đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời gian qua có ý nghĩa sâu sắc và đặt ra nhiều vấn đề quan trọng cần giải quyết.

Báo cáo Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam đánh giá rằng, hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển và ngày càng hoàn thiện.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Giai đoạn từ khi thành lập đến năm 1975

Trong giai đoạn ban đầu từ khi mới ra đời cho đến năm 1975, sứ mệnh quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là tập trung vào nhiệm vụ chống thực dân, đế quốc, giải phóng dân tộc, giành độc lập và tạo nền tảng kinh tế, xã hội bước đầu, đưa non sông thu về một mối. Thành tựu lý luận nổi bật của Đảng là việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn, xác định đúng đắn con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, lấy nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giành độc lập làm trên hết.

Đảng đã phát triển tư duy về chiến tranh nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và bước đầu tìm tòi mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh đất nước chia cắt và hậu chiến, dù còn mang nặng tư duy tập trung, quan liêu, bao cấp. Trong giai đoạn này, bên cạnh mục tiêu độc lập dân tộc, Đảng ta khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là sợi chỉ đỏ tư tưởng, là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.

Giai đoạn từ 1976-1986 và bước ngoặt Đổi mới

Trong giai đoạn từ 1976-1986, Đảng ta đã bước đầu phát triển nhận thức về các quy luật, các mối quan hệ lớn tồn tại khách quan trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Khi bước vào giai đoạn Đổi mới từ năm 1986, đứng trước yêu cầu cấp bách cần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, khắc phục mô hình tập trung quan liêu, bao cấp và phát triển bền vững đất nước, Đảng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới từ Đại hội VI đến nay.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Đây là quá trình liên tục tìm tòi, trải nghiệm, thử nghiệm, sáng tạo, kiên định và bền bỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng, dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính trong giai đoạn này, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từng bước được hoàn thiện, phát triển. Thực tiễn đổi mới là trường học cuộc sống vĩ đại cho sự trưởng thành trí tuệ của Đảng và của nhân dân ta.

Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó đã khẳng định đường lối của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử, tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới.

Đóng góp của Đảng qua các kỳ đại hội

Đại hội VI đề ra quyết sách Đổi mới, xác định đường lối, quan điểm, nguyên tắc và phương châm đổi mới, đặt nền móng bước đầu nhưng rất quan trọng cho lý luận Đổi mới Việt Nam. Đại hội VII (1991) thông qua quyết định lịch sử về “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, hình thành những nhận thức cơ bản về đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa và phương hướng xây dựng đất nước.

Đại hội VIII (1996) kết thúc thế kỷ XX, đổi mới tròn một thập kỷ và đã đưa nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội, giữ vững ổn định chính trị-xã hội. Đại hội IX (2001) xác định giá trị “dân chủ” trong hệ mục tiêu của đổi mới. Đại hội X (2006) tổng kết lý luận-thực tiễn 20 năm đổi mới với những kết quả và bài học quan trọng.

Đại hội XI (2011) thông qua Cương lĩnh (bổ sung, phát triển, năm 2011) đã trang trọng đưa vào Cương lĩnh nhận thức mới của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh và nêu lên 8 mối quan hệ lớn của đổi mới. Đại hội XII (2016) tiếp tục điều chỉnh, bổ sung, phát triển các đặc trưng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là lần đầu tiên xác định xây dựng Đảng về đạo đức và bổ sung lý luận về kinh tế thị trường.

Đại hội XIII (2021) nhấn mạnh nội dung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và bổ sung quan hệ thứ 10 về thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế và bảo đảm kỷ cương xã hội. Như vậy, đến Đại hội XIII, Đảng đã xác định rõ:

  • 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa
  • 8 phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội
  • 10 mối quan hệ lớn phản ánh quy luật của đổi mới và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Những nội dung này cùng với 3 trụ cột nền tảng (được chính thức xác định trong Văn kiện Đại hội XIV) tạo thành hệ thống lý luận cơ bản về chủ nghĩa xã hội Việt Nam, góp phần trả lời hai câu hỏi lý luận lớn mà thực tiễn đổi mới đặt ra.

Tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa

  1. Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
  2. Do nhân dân làm chủ
  3. Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp
  4. Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
  5. Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
  6. Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển
  7. Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo
  8. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới

Ba trụ cột nền tảng

  • Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
  • Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
  • Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Hệ thống lý luận này không chỉ phản ánh sự trưởng thành về trí tuệ của Đảng qua từng giai đoạn lịch sử, mà còn là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới, đảm bảo Việt Nam tiếp tục vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể và xu thế toàn cầu.