Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn của khu vực, thu hút trên 549 tỷ USD vốn đăng ký, với hơn 46.000 dự án còn hiệu lực, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển xuất khẩu, tạo việc làm, nâng cao năng lực quản trị và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới.
Nghị quyết 10: Bước ngoặt trong tư duy thu hút FDI
Việc Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ra đời đánh dấu bước chuyển quan trọng từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển hệ sinh thái kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện đại, hiệu quả và bền vững, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.
Nghị quyết 10 đặt ra các mục tiêu tương đối cao cho giai đoạn 2026 – 2030. Cụ thể như tổng vốn đăng ký dự kiến đạt khoảng từ 40 đến 50 tỷ USD/năm; Vốn thực hiện dự kiến đạt khoảng từ 30 đến 40 tỷ USD/năm; Phấn đấu 75% nguồn vốn đến từ các quốc gia có tiềm lực công nghệ và các nền kinh tế phát triển; Phấn đấu sẽ có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Cạnh tranh bằng chất lượng phát triển thay vì ưu đãi
Trao đổi với Người Đưa Tin, TS. Nguyễn Sĩ Dũng - nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nói rằng, Việt Nam đã đặt mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, do đó, để hiện thực hóa mục tiêu này, ngoài thu hút thêm vốn, Việt Nam cần thu hút được công nghệ, tri thức quản trị, năng lực nghiên cứu - phát triển (R&D) và các ngành công nghiệp của tương lai.
Theo ông Dũng, cạnh tranh thu hút đầu tư trên thế giới ngày càng gay gắt. Các quốc gia không còn cạnh tranh chủ yếu bằng ưu đãi thuế hay lao động giá rẻ, mà bằng chất lượng thể chế, nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo và vị thế trong các chuỗi giá trị toàn cầu.
Làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và cạnh tranh công nghệ đang mở ra cơ hội rất lớn để Việt Nam bứt phá. Theo ông Dũng, nếu vẫn nhìn FDI chủ yếu như một nguồn vốn, Việt Nam có thể bỏ lỡ cơ hội đó.
Vì vậy, yêu cầu chuyển từ "tư duy thu hút vốn" sang "tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia" là một thay đổi quan trọng về tư duy. Điều cần thiết hiện nay là những dự án giúp nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và tạo ra động lực tăng trưởng mới, thay vì chỉ tính theo số lượng dự án FDI.
"Lúc này, chúng ta không còn đặt câu hỏi thu hút được bao nhiêu vốn, mà là FDI sẽ giúp Việt Nam phát triển lên một trình độ mới như thế nào. Đó chính là ý nghĩa chiến lược và tính cấp bách của Nghị quyết 10", ông Dũng nhấn mạnh.
Chuyển từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ dựa trên kết quả
TS. Nguyễn Sĩ Dũng phân tích, trong giai đoạn trước, nhiều quốc gia cạnh tranh thu hút FDI bằng các ưu đãi đầu vào như thuế, đất đai hay các hỗ trợ trực tiếp khác. Cách làm này từng phát huy hiệu quả nhưng cũng bộc lộ hạn chế khi không phải dự án nào nhận nhiều ưu đãi cũng mang lại giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế.
Theo ông, việc chuyển sang cơ chế hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết thể hiện bước tiến quan trọng trong tư duy chính sách. Nhà nước không còn chủ yếu ưu đãi dựa trên những gì doanh nghiệp hứa sẽ làm, mà dựa trên những gì doanh nghiệp thực sự tạo ra. Doanh nghiệp càng đóng góp nhiều cho đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao hay phát triển chuỗi cung ứng trong nước thì càng được hưởng sự hỗ trợ tương xứng.
Đối với các tập đoàn công nghệ và nhà đầu tư chiến lược, theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, điều họ quan tâm hơn ưu đãi thuế là sự ổn định của chính sách, tính minh bạch của môi trường đầu tư và khả năng dự đoán trong dài hạn.
Cơ chế mới sẽ giúp các tiêu chí hỗ trợ trở nên rõ ràng hơn, công bằng hơn và gắn với hiệu quả thực tế. Đồng thời, Việt Nam cũng có điều kiện lựa chọn được những nhà đầu tư thực sự muốn gắn bó lâu dài, với thông điệp rõ ràng là luôn chào đón FDI nhưng ưu tiên những dự án tạo ra giá trị gia tăng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Theo ông, đây cũng là dấu hiệu của một nền kinh tế đang trưởng thành, chuyển từ cạnh tranh bằng ưu đãi sang cạnh tranh bằng chất lượng phát triển.
3 nhóm cơ chế đột phá
Theo TS. Nguyễn Sĩ Dũng, các tập đoàn công nghệ hàng đầu không thiếu vốn, cũng không quá quan tâm đến ưu đãi thuế đơn thuần. Điều họ tìm kiếm là một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có khả năng hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ trong dài hạn.
Theo đó, Việt Nam cần tập trung vào 3 nhóm cơ chế đột phá.
Thứ nhất là cơ chế thể chế đặc biệt. Theo ông, cần xây dựng các "đặc khu đổi mới sáng tạo" với cơ chế quản trị linh hoạt, thủ tục hành chính một cửa, cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox) và khả năng xử lý nhanh các vấn đề phát sinh liên quan đến công nghệ mới. Trong lĩnh vực công nghệ, tốc độ đôi khi quan trọng không kém ưu đãi.
Thứ hai là cơ chế nhân tài vượt trội. Theo ông, cuộc cạnh tranh hiện nay thực chất là cạnh tranh về chất xám. Việt Nam cần có chính sách đặc biệt để thu hút các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ, kỹ sư hàng đầu thế giới và cộng đồng trí thức Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời cho phép các trung tâm R&D chủ động tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài theo chuẩn quốc tế.
Thứ ba là cơ chế đồng đầu tư cho đổi mới sáng tạo. Nhà nước có thể hỗ trợ một phần chi phí nghiên cứu, đào tạo nhân lực chất lượng cao, xây dựng phòng thí nghiệm dùng chung, hạ tầng dữ liệu và hạ tầng tính toán hiệu năng cao. Theo ông, đây là những yếu tố có sức hấp dẫn rất lớn đối với các trung tâm R&D toàn cầu.
"Muốn thu hút các 'đại bàng' công nghệ, Việt Nam phải chuyển từ tư duy ưu đãi đầu tư sang tư duy kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đẳng cấp quốc tế. Và chính hệ sinh thái đó sẽ là yếu tố quyết định nơi các tập đoàn công nghệ lựa chọn đặt tương lai của mình", ông Dũng nói.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Không thu hút đầu tư bằng mọi giá
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10 diễn ra ngày 30/6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định bước vào giai đoạn phát triển thế hệ mới với một tâm thế mới, Việt Nam không thu hút đầu tư bằng mọi giá mà phải là quốc gia có chiến lược, có lựa chọn, có năng lực sàng lọc và đồng hành với các nhà đầu tư tốt để cùng tạo ra giá trị mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hoan nghênh các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam làm ăn lâu dài, tuân thủ pháp luật, tôn trọng lợi ích chính đáng của người lao động, cộng đồng và đất nước, cùng chia sẻ công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển doanh nghiệp trong nước và nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong, ngoài nước phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo, quyết tâm đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống, biến chủ trương đúng đắn thành những dự án tốt, doanh nghiệp mạnh, chuỗi giá trị mới, việc làm chất lượng cao và năng lực mới cho đất nước.



