Lần đầu tiên sau gần bốn thập niên đổi mới, Việt Nam đứng trước bước chuyển quan trọng trong quản trị quốc gia. Mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao đòi hỏi đổi mới phương thức tổ chức và vận hành. Từ năm 1986, đất nước tích lũy thế và lực mới, nhưng câu hỏi cốt lõi là mô hình quản trị hiện tại có đủ năng lực chuyển hóa nguồn lực thành sức mạnh thực chất.
Kiến tạo năng lực quản trị - hạt nhân của cải cách thể chế
Lịch sử cho thấy không quốc gia nào phát triển chỉ bằng mục tiêu hay chiến lược. Điều quyết định là năng lực tổ chức thực hiện qua mô hình quản trị phù hợp. Đảng xác định tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, sắp xếp bộ máy, thúc đẩy khoa học công nghệ và chuyển đổi số quốc gia. Tất cả hướng tới đổi mới mô hình quản trị để kiến tạo năng lực phát triển mới.
Nghị quyết số 18-NQ/TW chỉ rõ bộ máy còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, chức năng chồng chéo, phân cấp chưa hợp lý. Tinh gọn phải đi đôi với phân định rõ chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm; tổ chức lại quan hệ Trung ương - địa phương; rút ngắn quy trình, giải phóng nguồn lực, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân. Mục tiêu cuối cùng là kiến tạo Nhà nước có năng lực quản trị cao hơn.
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp - biểu hiện tập trung của tư duy đổi mới
Xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Mọi quyết sách của Nhà nước đều hiện thực hóa ở địa phương; cải cách thể chế chỉ có nghĩa khi chuyển hóa thành chất lượng quản trị ở từng địa phương và người dân. Quyết sách này là kết quả chuẩn bị lâu dài về lý luận, thực tiễn và thể chế, từ Nghị quyết số 18-NQ/TW (2017) đến Kết luận số 127-KL/TW, Nghị quyết số 60-NQ/TW và các đạo luật năm 2025.
Mô hình ba cấp ra đời trong bối cảnh kinh tế phân tán, hạ tầng hạn chế, năng lực cơ sở chưa đồng đều. Cấp huyện là mắt xích trung gian truyền tải chính sách, hướng dẫn thực thi, điều hòa nguồn lực. Suốt nhiều thập niên, mô hình này hoàn thành sứ mệnh lịch sử, nhưng đô thị hóa, liên kết vùng, chuyển đổi số và sự trưởng thành của chính quyền cơ sở đã thay đổi môi trường quản trị. Chức năng truyền dẫn của tầng trung gian thu hẹp, hạn chế bộc lộ: quy trình kéo dài, nguồn lực phân tán, thông tin chia cắt, trách nhiệm khó xác định.
Chuyển từ quản lý nhiều tầng nấc sang quản trị trực tiếp
Yêu cầu chuyển từ quản lý nhiều tầng nấc sang quản trị trực tiếp, từ cơ chế truyền đạt mệnh lệnh sang phân quyền rõ ràng, từ điều hành hồ sơ giấy sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ và kết quả. Bản chất cải cách không phải kết thúc hoạt động của cấp huyện, mà giải quyết mâu thuẫn giữa mô hình cũ với yêu cầu quản trị kỷ nguyên số. Trong cấu trúc cũ, hồ sơ phải qua nhiều cấp, phát sinh thời gian, chi phí, sai lệch thông tin. Khi dữ liệu kết nối, xác thực, chia sẻ trên nền tảng dùng chung, nhiều nhiệm vụ được chỉ đạo trực tiếp từ tỉnh và giải quyết tại xã, giám sát thời gian thực.
Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định chuyển đổi số là nền tảng đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Công nghệ rút ngắn khoảng cách quản trị; thể chế phân quyền làm trách nhiệm có địa chỉ. Việc kết thúc cấp huyện phải đi liền với tái phân bổ thẩm quyền, nguồn lực, ngân sách, trách nhiệm giải trình giữa tỉnh và xã, đúng tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW.
Sắp xếp đơn vị hành chính - tái cấu trúc không gian phát triển
Sắp xếp đơn vị hành chính nhằm giảm đầu mối quản lý, tạo quy mô quản trị đủ lớn để quy hoạch hạ tầng, phát triển đô thị, tổ chức logistics, điều phối nguồn lực, tăng liên kết vùng. Theo tinh thần Đại hội XIV, đây là cuộc cách mạng sắp xếp lại giang sơn, không đơn thuần điều chỉnh địa giới, mà tổ chức lại không gian phát triển quốc gia, để địa giới hành chính trở thành công cụ phục vụ phát triển, phát huy lợi thế từng địa phương, tăng cường liên kết kinh tế, bảo đảm quốc phòng an ninh.
Sau sắp xếp, cả nước giảm từ 63 xuống 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, từ 10.035 xuống 3.321 đơn vị hành chính cấp xã, kết thúc hoạt động của 696 đơn vị hành chính cấp huyện. Ý nghĩa cải cách không nằm ở số đầu mối giảm, mà ở tái cấu trúc toàn diện thẩm quyền, nguồn lực công, phương thức quản trị và cung ứng dịch vụ công. Nền quản trị mới hướng tới quản trị bằng dữ liệu, kết quả và trách nhiệm giải trình, quyền lực được bảo đảm bởi tính minh bạch của dữ liệu, sự rõ ràng về thẩm quyền và khả năng kiểm soát quyền lực.
Phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân
Cải cách tạo điều kiện phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, hiện thực hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Khi thẩm quyền phân định rõ, trách nhiệm cụ thể, quy trình số hóa công khai, người dân tham gia giám sát, phản biện trực tiếp. Sự gần dân được đo bằng tốc độ giải quyết công việc, mức độ minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự hài lòng thực sự.
Chính quyền địa phương hai cấp không phải đích đến, mà là điểm khởi đầu của mô hình quản trị quốc gia mới. Thay đổi không chỉ cơ cấu tổ chức, mà cách thức Nhà nước tổ chức quyền lực, phân bổ nguồn lực và phục vụ Nhân dân. Đó là ý nghĩa sâu xa của cải cách thể chế: kiến tạo năng lực quản trị quốc gia đủ mạnh để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình.
Giá trị khoa học của mô hình hai cấp
Giá trị khoa học của mô hình chính quyền địa phương hai cấp thể hiện ở khả năng giải quyết đồng thời ba mối quan hệ nền tảng: giữa cấu trúc tổ chức với trình độ phát triển xã hội; giữa phân quyền với trách nhiệm giải trình; giữa quy mô quản trị với năng lực thực thi. Phép biện chứng duy vật cho thấy không có mô hình quản trị nào bất biến. Thiết chế từng phù hợp có thể trở thành lực cản khi điều kiện thay đổi. Tính khoa học của cải cách được đo bằng mức độ đồng bộ giữa thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn lực, dữ liệu, đội ngũ cán bộ và cơ chế kiểm soát quyền lực.
Cấp tỉnh phải trở thành trung tâm kiến tạo phát triển, điều phối chiến lược, bảo đảm tính thống nhất trong quản trị. Trọng tâm là quy hoạch phát triển, hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực, đầu tư hạ tầng, điều phối liên kết vùng, quản trị rủi ro và kiểm tra kết quả. Phân cấp, phân quyền phải đồng bộ giữa thẩm quyền, nguồn lực và trách nhiệm, bảo đảm “rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm”, gắn với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực.
Cấp xã - cấp quản trị trực tiếp
Cấp xã phải trở thành cấp quản trị trực tiếp. Sau sắp xếp, nhiều xã, phường quản lý địa bàn rộng hơn, dân số lớn hơn, đảm nhận nhiều nhiệm vụ trước đây thuộc cấp huyện. Điều này đòi hỏi chính quyền cơ sở thay đổi tư duy quản trị, cán bộ phải có năng lực điều hành, phối hợp, giải quyết vấn đề. Bố trí biên chế, phân bổ nguồn lực cần căn cứ vào quy mô dân số, diện tích, khối lượng công việc và đặc điểm từng địa phương.
Dữ liệu là hạ tầng của mô hình quản trị mới. Chuyển đổi số không chỉ số hóa quy trình hành chính, mà phải chuẩn hóa, kết nối, cập nhật và khai thác dữ liệu dân cư, đất đai, doanh nghiệp, hộ tịch, tài chính, giáo dục, y tế trên nền tảng thống nhất. Nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” giúp giảm thủ tục, rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng dự báo và hỗ trợ ra quyết định. Ngược lại, dữ liệu phân tán tạo “tầng trung gian vô hình” làm chậm quá trình quản trị.
Kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình
Khi nhiều thẩm quyền được giao cho cấp tỉnh và cấp xã, kiểm soát quyền lực phải chặt chẽ hơn. Giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các cơ quan kiểm tra, thanh tra, báo chí và Nhân dân cần dựa trên thông tin đầy đủ, minh bạch, kịp thời. Hiệu quả mô hình được đo bằng thời gian giải quyết thủ tục hành chính, mức độ hài lòng của người dân, tỷ lệ hồ sơ đúng hạn, chất lượng dịch vụ công và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Khi quyền lực phân định rõ, dữ liệu minh bạch, trách nhiệm cụ thể, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm bằng kết quả quản trị.
Mọi cải cách thể chế hướng tới nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Chính quyền địa phương hai cấp là điểm khởi đầu của mô hình quản trị hiện đại, minh bạch, gần dân. Thành công của cải cách được khẳng định bằng chuyển biến thực chất trong quản trị quốc gia, chất lượng điều hành của chính quyền và đời sống của Nhân dân. Đó là thước đo cuối cùng kiểm nghiệm tính đúng đắn của chủ trương, hiện thực hóa khát vọng xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.



