Rau má là loại rau mọc dại quen thuộc tại Việt Nam, thường được dùng để nấu nước uống hoặc chế biến thành các món canh giải nhiệt trong mùa hè. Không chỉ là thực phẩm, rau má còn được xem là vị thuốc quý trong y học cổ truyền với nhiều công dụng chữa bệnh đã được ghi chép và chứng minh qua nghiên cứu hiện đại.
Rau má trong y học cổ truyền
Theo bác sĩ chuyên khoa II Huỳnh Tấn Vũ, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM (cơ sở 3), các sách thuốc cổ như Bản thảo cương mục, Dược tính luận, Nam dược thần hiệu ghi chép rau má có vị đắng, tính hàn, vào ba kinh can, tỳ và thận. Rau má có công dụng thanh nhiệt, lợi thấp, tiêu thũng giải độc. Y học cổ truyền thường dùng rau má để chữa tiêu chảy mùa hè, bệnh lỵ, vàng da do thấp nhiệt, sỏi đường tiết niệu, bỏng, dị ứng mẩn ngứa.
Nghiên cứu hiện đại về rau má
Các nghiên cứu thực nghiệm trên chuột bạch và chuột cống cho thấy rau má có tác dụng trấn tĩnh, an thần thông qua cơ chế tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương. Saponin trong dịch chiết rau má kích thích quá trình sinh trưởng của tế bào da, tăng sinh mạng lưới huyết quản của tổ chức liên kết, giúp mô tái tạo nhanh và vết thương mau lành. Ngoài ra, rau má còn có tác dụng kháng khuẩn rõ rệt, làm giảm trương lực cơ trơn ở ruột (chống co thắt), hưng phấn nhẹ hô hấp và hạ huyết áp. Trên lâm sàng, bột rau má khô uống với liều 3 lần mỗi ngày, mỗi lần 5-7g có tác dụng giảm đau khá tốt.
Các bài thuốc dân gian từ rau má
Trong dân gian, rau má được dùng để chữa nhiều chứng bệnh thông thường:
- Vàng da do thấp nhiệt: Rau má 30-40 g, đường phèn 30 g sắc uống.
- Tiêu chảy do trúng thực: Rau má 30 g sắc với nước vo gạo uống hàng ngày.
- Tiểu tiện ra máu: Rau má và ích mẫu thảo mỗi thứ một nắm rửa sạch, giã nát vắt lấy nước uống.
- Bệnh sởi: Rau má 30-40 g sắc uống.
- Áp xe ngực giai đoạn đầu: Rau má tươi 30-70 g sắc uống hoặc giã nát ép lấy nước uống.
- Giải ngộ độc thuốc và thực phẩm: Rau má tươi giã nát ép lấy nước uống, có thể thêm một chút đường phèn.
- Hành kinh đau bụng, đau lưng: Rau má khô tán bột, mỗi ngày uống 2 thìa cà phê gạt ngang.
- Giải nhiệt, trị rôm sẩy, mẩn ngứa, mát gan, lợi tiểu: Rau má tươi 30-100 g rửa sạch, giã nát vắt lấy nước uống hàng ngày hoặc dùng máy xay sinh tố xay nát rồi hoà đường uống.
- Ho do cảm phong nhiệt: Rau má, xạ can, lá hẹ nấu nước uống.
- Viêm gan virus: 150 g rau má tươi sắc với 500 ml nước, cô đặc còn 250 ml, pha thêm đường phèn chia uống 2 lần trong ngày khi đói bụng. Hỗ trợ hạ men gan, làm mát gan.
- Cảm nắng: Rau má, củ sắn dây, hương nhu nấu nước uống.
Lưu ý khi sử dụng rau má
Tại Việt Nam, các nghiên cứu ứng dụng lâm sàng của rau má hiện tập trung nhiều nhất trong việc điều trị các bệnh lý ngoài da, đặc biệt là phục hồi tổn thương do bỏng. Dù loại rau này rất phổ biến và lành tính, giới chuyên gia khuyến cáo một số nhóm đối tượng cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng:
- Phụ nữ mang thai và có kế hoạch sinh con: Do rau má có hoạt tính kích thích co bóp tử cung nhẹ, phụ nữ đang trong thai kỳ hoặc đang chuẩn bị thụ thai nên hạn chế dùng để đảm bảo an toàn.
- Người có bệnh lý nền về gan, chuyển hóa: Việc lạm dụng hoặc uống rau má liên tục thay nước lọc trong thời gian dài có thể làm tăng áp lực bài tiết lên gan, đồng thời có nguy cơ ảnh hưởng đến chỉ số đường huyết và cholesterol.
- Người đang điều trị bằng thuốc: Những ai đang uống thuốc an thần, thuốc hạ huyết áp hoặc thuốc tiểu đường nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng rau má lượng lớn nhằm tránh nguy cơ tác dụng phụ không mong muốn.



