Nghị định 90/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế vừa được ban hành với nhiều điểm mới đáng chú ý. Văn bản này quy định chi tiết các hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và xử phạt theo từng chức danh.
Phạm vi vi phạm hành chính trong y tế
Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế bao gồm: vi phạm quy định về y tế dự phòng và phòng, chống HIV/AIDS; khám bệnh, chữa bệnh; dược, mỹ phẩm; thiết bị y tế; bảo hiểm y tế; dân số. Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 30 triệu đồng (dân số), 50 triệu (y tế dự phòng và HIV/AIDS), 75 triệu (bảo hiểm y tế), 100 triệu (khám chữa bệnh, dược, mỹ phẩm, thiết bị y tế). Đối với tổ chức, mức phạt gấp đôi cá nhân.
Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã
Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 15 triệu (dân số), 25 triệu (y tế dự phòng, HIV/AIDS), 37,5 triệu (bảo hiểm y tế), 50 triệu (khám chữa bệnh, dược, mỹ phẩm, thiết bị y tế); tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề; đình chỉ hoạt động; tịch thu tang vật; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Bổ sung mới so với Nghị định 117/2020/NĐ-CP
Nghị định 90/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 7 Điều 3 về xử lý vi phạm trên môi trường điện tử, thực hiện theo Nghị định 118/2021/NĐ-CP và các nghị định sửa đổi. Đồng thời, bổ sung khoản 2 và 3 Điều 56 về mức phạt đăng ký thuốc, nguyên liệu làm thuốc: phạt 20-30 triệu đồng đối với vi phạm khoản 2, 30-50 triệu đồng đối với vi phạm khoản 3.
Tăng mạnh phạt vi phạm bảo hiểm y tế
Mức phạt chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm y tế (BHYT), cho mượn thẻ BHYT tăng mạnh, lên tới 70 triệu đồng. Cụ thể:
- Người sử dụng lao động không lập danh sách tham gia BHYT trong 60 ngày: phạt 1-2 triệu (dưới 10 lao động), 2-4 triệu (10-50 lao động), 4-7 triệu (50-100), 7-15 triệu (100-500), 25-35 triệu (từ 1.000 lao động trở lên).
- Chưa đóng hoặc đóng chưa đủ BHYT: phạt 500.000-1 triệu (vi phạm dưới 5 triệu), 20-25 triệu (120-160 triệu), 25-35 triệu (trên 160 triệu).
Biện pháp khắc phục hậu quả
Cá nhân, tổ chức vi phạm buộc hoàn trả tiền thiệt hại cho người tham gia BHYT; nếu không hoàn trả được thì nộp vào ngân sách nhà nước; buộc nộp số lợi bất hợp pháp vào quỹ BHYT; đóng đủ số tiền thiếu; nộp lãi chậm đóng 0,03%/ngày.
Mức phạt cụ thể cho trốn đóng và cho mượn thẻ BHYT
Trốn đóng BHYT chưa đến mức truy cứu hình sự: phạt 300.000-500.000 đồng. Người sử dụng lao động không lập danh sách sau 60 ngày: phạt 2-4 triệu (dưới 10 lao động), 4-7 triệu (10-50), 50-70 triệu (từ 1.000 lao động trở lên). Cho mượn, sử dụng thẻ BHYT sai quy định: phạt 1-2 triệu (chưa gây thiệt hại), 3-5 triệu (chiếm đoạt dưới 10 triệu hoặc gây thiệt hại dưới 20 triệu).
Nghị định 90/2026/NĐ-CP thay thế Nghị định 117/2020, có hiệu lực từ ngày ký ban hành, tăng cường chế tài xử lý vi phạm nhằm bảo vệ quyền lợi người tham gia BHYT và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.



