Bệnh viện Đại học Bắc Kinh tại Thâm Quyến (Trung Quốc) vừa công bố một ca bệnh hiếm gặp: một nam sinh viên đại học 20 tuổi đột nhiên xuất hiện các triệu chứng kỳ lạ. Dù thức ăn có vị mặn, cay, chua hay đắng, anh vẫn chỉ cảm nhận được vị ngọt. Với những món ăn đậm đà, anh chỉ thấy như được thêm đường.
Ban đầu, chàng trai nghĩ đó chỉ là vấn đề nhỏ; nhưng sau hơn một tháng, anh đột nhiên bị co giật, động kinh tại trường và ngã quỵ. Sau khi được đưa đến bệnh viện, các bác sĩ kinh ngạc phát hiện một khối u thần kinh đệm (glioma) có đường kính khoảng 4cm trong não bệnh nhân.
Diễn biến bệnh lý
Theo báo cáo của bệnh viện, sinh viên này có biệt danh là Tiểu Bộ. Ban đầu, anh chỉ thấy bất thường về vị giác. Sau đó, chàng trai bắt đầu bị tê liệt nửa người bên trái, thỉnh thoảng đi lại loạng choạng, thậm chí mất kiểm soát. Khả năng nói chuyện cũng bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, vì nghĩ mình còn trẻ, Tiểu Bộ cho rằng đó chỉ là mệt mỏi tạm thời và không đi khám.
Cho đến một ngày, anh đột nhiên lên cơn động kinh trong khuôn viên trường và được đưa đến bệnh viện cấp cứu. Qua chụp CT sọ não, các bác sĩ phát hiện một khối u lớn chiếm chỗ trong não. Sau khi chụp MRI, họ chẩn đoán Tiểu Bộ bị u tế bào thần kinh đệm.
Khối u như quả bom hẹn giờ
Các bác sĩ cho biết, u tế bào thần kinh đệm được gọi là kẻ giết não, là một trong những khối u ác tính khó điều trị nhất trong phẫu thuật thần kinh. Tỉ lệ tái phát cao, tỉ lệ tàn tật và tử vong cũng đáng báo động. Khối u của Tiểu Bộ nằm ở hồi thái dương trên, khu vực kiểm soát sự phối hợp giữa thính giác, ngôn ngữ và vị giác, giải thích triệu chứng mọi thức ăn đều có vị ngọt.
Khối u có đường kính khoảng 4cm này được ví như một quả bom hẹn giờ trong lõi não bệnh nhân. Nó liên tục kích thích phóng điện bất thường trong vỏ não, trực tiếp gây ra bệnh động kinh. Ngoài ra, vị trí khối u gần các khu vực chức năng vận động và ngôn ngữ, gây ra tê bì chân tay trái, mất thăng bằng khi đi lại và suy giảm khả năng nói.
Phẫu thuật thành công
Đội ngũ y tế đã phẫu thuật mở sọ cho Tiểu Bộ, loại bỏ thành công khối u. Sau phẫu thuật, cảm nhận bất thường về vị ngọt biến mất ngay lập tức, tình trạng tê bì chân tay được cải thiện đáng kể và không xảy ra tổn thương thần kinh. Hiện tại anh hồi phục tốt và vẫn cần xạ trị, hóa trị thêm.
Tổng quan về u thần kinh đệm
U thần kinh đệm xuất phát từ tế bào thần kinh đệm – hỗ trợ và nuôi dưỡng các tế bào thần kinh trong não. Khoảng 33% các khối u não thuộc nhóm u thần kinh đệm. Chúng được gọi là các khối u theo trục trong não vì phát triển trong bộ não và thường lẫn với mô não bình thường.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, u thần kinh đệm chiếm khoảng 40–70% các u nguyên phát nội sọ và được phân thành nhóm bậc thấp và bậc cao. Các yếu tố nguy cơ không có nguyên nhân rõ ràng. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng phổ biến hơn ở người lớn, có khả năng ảnh hưởng đến nam giới nhiều hơn nữ giới, và người da trắng so với người Mỹ gốc Phi.
U thần kinh đệm là khối u não phổ biến nhất ở cả người lớn và trẻ em, chiếm khoảng 25% u não ở trẻ em và 27% u não ở người lớn, chiếm 50% khối u thần kinh trung ương (não và tủy sống). Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy mức độ ác tính của u thần kinh đệm có xu hướng tăng theo tuổi.
Triệu chứng thường gặp
Biểu hiện u thần kinh đệm phụ thuộc vào vị trí và kích thước của u. Một số triệu chứng phổ biến: đau đầu, buồn nôn, nôn; rối loạn thị lực như nhìn mờ, nhìn đôi, mất thị lực; yếu chi hoặc rối loạn cảm giác, vận động của các chi; động kinh. Ngoài ra, có thể tăng giảm cân bất thường, trẻ em dậy thì sớm, nhầm lẫn, rối loạn lời nói, buồn ngủ, thay đổi hành vi…
Đặc điểm của u thần kinh đệm là thường dạng nang, phần đặc nằm ở vách u tăng tín hiệu, loại u này chiếm 2%–5% trong số các u thần kinh đệm. Vị trí u hay gặp lần lượt: tiểu não (60%), dây thần kinh sọ số II và giao thoa thị giác (25–30%), não thất III và thân não (10–15%).
Triệu chứng của u nguyên bào thần kinh đệm và các u thần kinh đệm khác có thể xuất hiện từ từ hoặc rõ rệt ngay từ đầu. Một số trường hợp không có triệu chứng cho đến khi khám bệnh vì dấu hiệu bất thường.
Các bác sĩ nhấn mạnh: nếu bị đau đầu dai dẳng không rõ nguyên nhân, buồn nôn và nôn mửa, co giật, bất thường về thị giác hoặc thính giác, hoặc khó khăn khi đi lại, nên chụp MRI đầu càng sớm càng tốt để tránh bỏ lỡ thời điểm vàng điều trị.



