Để tìm hiểu thực trạng an toàn thực phẩm, chúng tôi đã đến vùng đồi chè Suối Hai dưới chân núi Ba Vì (Hà Nội), gặp ông Đào Minh D. và nhiều nông dân đã gắn bó với cây chè từ những năm 1960. Họ kể rằng, suốt hàng chục năm nay, họ tự mua thuốc trừ sâu, tự pha, tự phun, rồi hái chè bán ra chợ mà không hề có kiểm tra nào về quy trình an toàn. “Cả đời làm chè, chúng tôi chưa từng thấy ai xuống tận nơi kiểm tra quy trình này có an toàn hay không”, ông D. nói.
Tương tự, tại xã Hồng Vân, cách trung tâm Hà Nội không xa, ông Hải, 64 tuổi, vừa tỉa lá rau vừa thừa nhận: “Phun nhiều chứ. Sáng 9 giờ phun thuốc trừ sâu, 3 giờ chiều đã nhổ rau đem bán. Cách làm đó không phải là độc hại nữa, mà là quá độc hại”. Ông còn tâm sự: “Tôi đi ăn ngoài hàng quán gần như không ăn rau. Vì mình biết họ trồng bằng ‘công nghệ’ nào. Tôi thấy quanh đây họ phun tưới độc hại ra sao. Ăn vào, tích tụ độc tố rồi mắc bệnh hiểm nghèo. Thèm rau lắm, tôi chỉ dám ăn vài thứ quả, củ có thể gọt vỏ”.
Một đại diện UBND xã Hồng Vân thừa nhận tình trạng thực phẩm không rõ nguồn gốc, mất an toàn không chỉ với rau mà còn với thịt lợn, hàng nhập lậu trà trộn ở chợ đầu mối. Về việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục, không bảo đảm thời gian cách ly, vị này cho biết có trưởng thôn từng đề xuất phương pháp “độc đáo”: hộ nào sử dụng thuốc sai quy định sẽ bị đưa lên loa truyền thông của xã để răn đe. Vì xấu hổ và sợ bị tẩy chay, bà con sẽ phải tuân thủ. Đề xuất này đặt ra bài toán về lực lượng giám sát và tuyên truyền sản xuất thực phẩm an toàn hiệu quả hơn.
Thực tế, từ hơn 10 năm trước, theo Chỉ thị số 08/CT-UBND của UBND thành phố Hà Nội, các cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm cần được thông báo trên đài phát thanh xã, phường để người tiêu dùng biết. Tuy nhiên, việc thực thi còn nhiều bất cập.
Nguyên nhân sâu xa: Chi phí và đầu ra
Ông Nguyễn Văn Chinh, Quản lý sản xuất Công ty TNHH Nông nghiệp tuần hoàn Kim Sơn (xã Đông Anh), cho rằng: Làm rau sạch, chè sạch tốn công và tốn tiền hơn nhiều. Riêng thuê nhân công nhổ cỏ đã đắt hơn phun thuốc diệt cỏ. Nhưng khi đưa ra chợ đầu mối, nông sản an toàn thường không xanh mướt, đẹp mã bằng hàng phun thuốc, nên bị ép giá. “Nếu làm sạch mà bán không ai mua, hoặc giá thấp hơn hàng thường, bà con rất khó theo đuổi”, ông Chinh nói.
Thiếu đầu mối chịu trách nhiệm trong chuỗi cung ứng
Sau chuyến giám sát thực tế về an toàn thực phẩm hồi tháng 4/2026, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Ủy viên Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội) chia sẻ: “Pháp luật hiện nay không thiếu quy định về an toàn thực phẩm. Hệ thống quản lý phát huy hiệu quả ở khu vực sản xuất có tổ chức, có tiêu chuẩn, truy xuất và chịu áp lực từ thị trường xuất khẩu; nhưng lại chưa đủ mạnh ở khu vực sản xuất nông hộ nhỏ lẻ, phân tán, nơi sản phẩm đi trực tiếp ra chợ dân sinh và vào bữa ăn hàng ngày”.
Ông Sơn nhấn mạnh, trong dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), cần có tầm nhìn rộng hơn, thiết kế cơ chế kiểm soát thực sự đi đến tận khu vực sản xuất nhỏ lẻ. Vấn đề không phải thiếu lực lượng quản lý, mà là quản lý bị chia cắt theo từng khâu: ngành nông nghiệp quản lý vật tư, thuốc bảo vệ thực vật và sản xuất ban đầu; ngành công thương quản lý lưu thông, chợ và phân phối; ngành y tế quản lý bếp ăn, trường học, bệnh viện. Mỗi khâu đều có người quản, nhưng cả chuỗi thiếu một đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng.
Ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết: “Việt Nam có khoảng 10 triệu hộ nông dân, tỷ lệ sản xuất quy mô nhỏ còn rất lớn. Công tác tập huấn về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn chưa thể bao phủ hết các hộ nhỏ lẻ; nhiều nông dân vẫn làm theo kinh nghiệm dù đã được hướng dẫn”. Tại các chợ dân sinh, truy xuất nguồn gốc gần như chưa được thực hiện, người bán và người mua đều thiếu thông tin về chất lượng sản phẩm.
Giải pháp: Số hóa và quản lý chuỗi thống nhất
PGS, TS Nguyễn Duy Thịnh, chuyên gia công nghệ thực phẩm, nhấn mạnh: Cần đẩy mạnh số hóa quản lý, áp dụng mã QR để người tiêu dùng truy xuất nguồn gốc nông sản từ vùng trồng tới chợ dân sinh. Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn trăn trở: “Chỉ khi nào người làm đúng được bảo vệ, người làm sai bị phát hiện nhanh, xử lý nghiêm và bị loại khỏi thị trường, chúng ta mới bảo vệ được người tiêu dùng và thu nhập bền vững của người sản xuất chân chính. Phải quản lý thực phẩm với cách tiếp cận mới: không đi sau vi phạm, mà đi trước nguy cơ; không quản bằng niềm tin, mà quản bằng dữ liệu, truy xuất và trách nhiệm đến cùng”.
Theo nhiều chuyên gia, để giải quyết tận gốc, sản xuất nông nghiệp cần chuyển từ manh mún sang liên kết theo hợp tác xã và chuỗi cung ứng có kiểm soát. Cuối tháng 4/2026, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên chủ trì cuộc họp xây dựng đề án kiện toàn bộ máy quản lý an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương tới địa phương. Theo đó, chỉ có một cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của ngành y tế tại các cấp, tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ từ ngành Nông nghiệp và Công thương. Định hướng chuyển từ quản lý theo từng khâu sang kiểm soát toàn bộ chuỗi thực phẩm, từ sản xuất, chế biến, lưu thông đến bữa ăn của người dân. Tăng cường chuyển đổi số trong quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin để phòng ngừa, xử lý bất cập và dễ dàng truy xuất nguồn gốc, hậu kiểm thực phẩm.
Hiện nay, Việt Nam cho phép lưu hành hơn 4.000 loại thuốc bảo vệ thực vật, cao hơn nhiều nước trong khu vực. Cả nước có trên 300 doanh nghiệp, gần 100 nhà máy sản xuất và khoảng 30.000 đại lý phân phối. Mỗi năm, Việt Nam sử dụng khoảng 100.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật, bình quân mỗi người dân “gánh” khoảng 1,1 kg hóa chất này qua thực phẩm và môi trường.



