Dứa dại, với tên khoa học là Pandanus tonkinensis, thuộc họ Dứa dại (Pandanaceae), là loại cây mọc hoang phổ biến tại các vùng ven suối, đồi núi ẩm ướt, đặc biệt tập trung nhiều ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Công dụng trong y học cổ truyền
Theo Tiến sĩ Ngô Đức Phương, Viện trưởng Viện Khoa học thuốc nam, trong dân gian, rễ và quả dứa dại được sử dụng rộng rãi để điều trị các chứng bệnh liên quan đến đường tiết niệu cũng như tình trạng “nóng trong”. Y học cổ truyền ghi nhận dứa dại có vị ngọt dịu, tính mát, mang lại hiệu quả thanh nhiệt, lợi tiểu, giảm các triệu chứng tiểu buốt, tiểu rắt, hỗ trợ điều trị sỏi tiết niệu nhẹ và giúp cơ thể mát mẻ, giảm cảm giác nóng bức.
Ở nhiều địa phương, các thầy lang thường kết hợp rễ và quả dứa dại trong các bài thuốc giải độc gan, mát gan. Trong thực tế, rễ hoặc quả dứa dại thường được sắc nước uống, có thể phối hợp với các loại thảo dược khác như mã đề, râu ngô, cối xay. Một số nơi, người dân còn dùng quả dứa dại ngâm rượu để uống.
Góc nhìn y học hiện đại
Tiến sĩ Phương cho biết, dưới góc độ y học hiện đại, các nghiên cứu bước đầu đã chỉ ra rằng trong quả dứa dại chứa các hợp chất flavonoid, alkaloid, polyphenol có hoạt tính chống oxy hóa, chống viêm nhẹ và lợi tiểu trong mô hình thực nghiệm. Một số nghiên cứu trên nhóm thực vật cùng loài cũng cho thấy tác dụng hỗ trợ tăng bài tiết nước tiểu và giảm phản ứng viêm ở đường tiết niệu. Điều này phần nào giải thích kinh nghiệm dân gian sử dụng dứa dại để “mát đường tiểu” và đào thải cặn nhỏ trong hệ tiết niệu.
Lưu ý quan trọng
Tuy nhiên, chuyên gia nhấn mạnh rằng chưa có bằng chứng lâm sàng mạnh mẽ chứng minh dứa dại có thể điều trị sỏi thận; vai trò chính của nó chỉ là hỗ trợ. “Người dân tuyệt đối không dùng loại quả này thay thế điều trị khi sỏi lớn hoặc tắc nghẽn tiết niệu. Những người có cơ địa lạnh nên dùng vừa phải và không lạm dụng kéo dài”, Tiến sĩ Phương cảnh báo.



