Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 do Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 3/7, thị trường lao động nửa đầu năm phát triển ổn định với nhiều chỉ số tích cực.
Lực lượng lao động và việc làm tăng
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý II/2026 ước tính đạt 53,8 triệu người, tăng 175.600 người so với quý trước và tăng 693.500 người so với cùng kỳ năm trước. Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động là 68,4%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với quý trước nhưng thấp hơn 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 6 tháng đầu năm, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,7 triệu người, tăng 690.700 người so với cùng kỳ năm trước. Lao động có việc làm quý II/2026 ước tính đạt 52,7 triệu người, tăng 170.200 người so với quý trước và tăng 688.300 người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực thành thị đạt 20,7 triệu người (tăng 67.300 người so với quý trước và tăng 523.900 người so với cùng kỳ), khu vực nông thôn đạt 32 triệu người (tăng 102.800 người so với quý trước và tăng 164.300 người so với cùng kỳ).
Cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế
Xét theo khu vực kinh tế, lao động có việc làm quý II/2026 trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là 13,3 triệu người (chiếm 25,2%), giảm 189.900 người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 17,8 triệu người (chiếm 33,9%), tăng 546.100 người; khu vực dịch vụ là 21,6 triệu người (chiếm 40,9%), tăng 332.100 người.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, lao động có việc làm đạt 52,6 triệu người, tăng 672.500 người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động khu vực thành thị đạt 20,7 triệu người (chiếm 39,3%), khu vực nông thôn đạt 31,9 triệu người (chiếm 60,7%). Theo khu vực kinh tế, lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản là 13,3 triệu người, giảm 202.600 người; công nghiệp và xây dựng là 17,7 triệu người, tăng 474.100 người; dịch vụ là 21,6 triệu người, tăng 401.000 người.
Tỉ lệ lao động phi chính thức giảm
Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, tỉ lệ lao động có việc làm phi chính thức là 61,9%, thấp hơn 2 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Khu vực thành thị đạt 47,7% (thấp hơn 0,3 điểm phần trăm), khu vực nông thôn đạt 71,1% (thấp hơn 2,8 điểm phần trăm). Tỉ lệ này ở nam là 65,5% (thấp hơn 1,7 điểm phần trăm) và nữ là 57,9% (thấp hơn 2,2 điểm phần trăm).
Tỉ lệ thất nghiệp và thanh niên không việc làm
Tỉ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động 6 tháng đầu năm 2026 là 2,22%, tương đương cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,47%, khu vực nông thôn là 2,05%. Tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên (15-24 tuổi) quý II/2026 là 8,67%, thấp hơn 0,2 điểm phần trăm so với quý trước nhưng cao hơn 0,48 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên khu vực thành thị là 9,75%; khu vực nông thôn là 8,07%.
Trong quý II/2026, cả nước có khoảng 1,4 triệu thanh niên (từ 15-24 tuổi) không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo, chiếm 10% tổng số thanh niên. Tỉ lệ này ở khu vực nông thôn là 11,5%, khu vực thành thị là 7,8%; nữ thanh niên là 11,6%, nam là 8,5%.
Tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên 6 tháng đầu năm 2026 là 8,77%, cao hơn 0,71 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; trong đó, khu vực thành thị là 10,21% (thấp hơn 0,43 điểm phần trăm), khu vực nông thôn là 7,96% (cao hơn 1,27 điểm phần trăm).
Thu nhập bình quân tăng 8,7%
Thu nhập bình quân của người lao động quý II/2026 đạt 9 triệu đồng/tháng, giảm 53.000 đồng so với quý I/2026 nhưng tăng 720.000 đồng (tương ứng tăng 8,7%) so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, thu nhập bình quân đạt 9 triệu đồng/tháng, tăng 717.000 đồng so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập bình quân của lao động nam là 10,1 triệu đồng/tháng; lao động nữ là 7,8 triệu đồng; lao động khu vực thành thị là 10,6 triệu đồng/tháng; lao động khu vực nông thôn là 7,9 triệu đồng/tháng.
Đối với lao động làm công hưởng lương, tính chung 6 tháng đầu năm 2026, thu nhập bình quân đạt 10 triệu đồng/tháng, tăng 679.000 đồng (tương ứng tăng 7,3%) so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, thu nhập của lao động nam là 10,5 triệu đồng/tháng; lao động nữ là 9,5 triệu đồng/tháng; lao động khu vực thành thị là 11,1 triệu đồng/tháng; lao động khu vực nông thôn là 9,1 triệu đồng/tháng.



