Tuyên Trung hầu Nguyễn Văn Tuyên là một trong những công thần khai mở và bảo vệ vùng đất phương Nam dưới triều Nguyễn. Theo sách Đại Nam nhất thống chí, ông tên thật là Nguyễn Văn Tuyên, người huyện Vĩnh An, đầu đời trung hưng theo quân đánh dẹp, lập nhiều chiến công, làm đến chức Vệ úy. Ông từng theo Lê Văn Duyệt đánh ác man ở Quảng Ngãi, sau đó đem quân đào kinh Vĩnh Tế và giữ chức Trấn thủ hai tỉnh Định Tường và Vĩnh Thanh, rồi làm Án thủ Châu Đốc bảo hộ nước Cao Miên.
Công lao khai lãnh thổ và định biên cương
Hai câu đối khắc tại lăng Tuyên Trung hầu ở ấp An Ninh, xã Mỹ An Hưng, tỉnh Đồng Tháp đã khái quát công lao của ông: "Thống lãnh Nam kỳ, uy vũ nhất phương thiên thu lưu tích sử/Chế ngự phiên bang, đức bạt nhị đồ vạn tái kỷ tiêu danh" (Thống lãnh Nam kỳ, uy vũ phủ một phương, ngàn thu lưu sử sách/Chế ngự lân bang, đức cao trùm hai cõi, muôn thuở tạc danh thơm). Câu đối thứ hai: "Khai lãnh thổ, định biên nhung, trường lưu vĩ tích/Nhận hoàng thân, ban quốc tính, vĩnh hiển vinh phong" (Mở mang bờ cõi, định yên biên thùy, công lao giúp đời còn truyền giữ/Nhận làm hoàng thân, ban cho quốc tính, phong hầu rạng rỡ mãi vẻ vang).
Theo thực lục, Tuyên Trung hầu chính danh là Phan Văn Tuyên, được triều đình ban quốc tính theo họ của vua thành họ Nguyễn vì lập nhiều công lớn. Đền thờ ông hiện còn khắc chữ "Phan Tông" ở hậu cổng. Thân phụ ông là Phan Văn Hậu, quê ở làng Kiêm Toàn, huyện Phú Xuân, tỉnh Thừa Thiên, làm quan đến Vệ úy, được truy phong Anh dũng tướng quân, Khinh xa đô úy, Thần sách vệ úy Nguyễn hầu. Thân mẫu là cụ Võ Thị Đức, sắc phong mỹ hiệu Thục nhân. Gia đình vào Nam thời loạn lạc Trịnh - Nguyễn phân tranh và Tây Sơn khởi nghĩa, dừng chân ở Gia Định rồi về miền Tây định cư tại làng Tòng Sơn (nay là xã Mỹ An Hưng, Đồng Tháp).
Sự nghiệp lẫy lừng dưới triều Nguyễn
Tuyên Trung hầu sinh năm Quý Tỵ (1763), là trưởng nam trong gia đình ba anh em trai. Năm 25 tuổi, ông đầu quân chúa Nguyễn, được cất nhắc lên chức Thần sách quân Hổ oai vệ úy và là tâm phúc của chúa. Năm 1803, ông thăng Chấn võ quân nhất bảo vệ úy rồi Khâm sai chưởng cơ, Thống chế. Mùa đông năm Kỷ Mão (1819), ông cùng Thoại Ngọc Hầu góp công lớn đào kinh Vĩnh Tế ở Châu Đốc. Sang đời Minh Mạng, ông giữ các chức Trấn thủ Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Thanh. Năm Minh Mạng thứ 9, ông thăng Thống chế cai quản biền binh Gia Định thành, bao gồm lục tỉnh Nam kỳ.
Năm 1827, khi Tả quân Lê Văn Duyệt về kinh, ông giữ quyền Tổng trấn Gia Định. Năm 1829, sau khi Thoại Ngọc Hầu qua đời, ông được bổ dụng làm Bảo hộ Cao Miên. Sắc chỉ của vua Minh Mạng ghi rõ chức vụ: "Thống chế lãnh Bảo hộ Cao Miên quốc ấn, Án thủ Châu Đốc đồn kiêm lãnh Hà Tiên trấn biên vụ, Tuyên Trung hầu Nguyễn Văn Tuyên". Ông giữ chức hơn một năm thì lâm bệnh, từ trần ngày 28 tháng 5 năm Tân Mão (1831) tại đồn Châu Đốc. Miêu duệ của ông vẫn lấy ngày này làm ngày cúng giỗ và lễ hội truyền thống của họ tộc.
Cuộc cải táng quy mô năm 1971
Người trông nom lăng hiện nay là anh Nguyễn Trường Nhật, cháu đời thứ 9 của Tuyên Trung hầu. Khu lăng mộ xưa nằm bên bờ sông Tiền, do sạt lở nên được cải táng về địa điểm hiện tại vào năm 1971. Khu mộ được sơn mới, lót nền gạch, tôn tạo khá quy mô, thêm bảng đá khắc chữ quốc ngữ. Từ cổng chính, mộ Tuyên Trung hầu nằm phía trước, hai bên có 2 khẩu súng thần công. Phía sau là mộ song hồn của thân phụ Phan Văn Hậu và thân mẫu Võ Thị Đức.
Theo anh Nguyễn Trường Nhật, các cháu 4 đời của Tuyên Trung hầu cũng được an táng tại đây. Khi di dời từ khu lăng mộ cũ đã có mộ ông Nguyễn Trường Cửu, con trưởng nam, từng giữ chức Phó lãnh binh Trấn Tây thành triều Minh Mạng, được phong An Hà đốc phủ, tử trận tại Cao Miên. Bà Đặng Thị Vị, chánh thất của ông, được sắc phong Đặng Thục thị An Nhơn và ông Nguyễn Công Lực, em trai Tuyên Trung hầu, Đô úy triều Minh Mạng, tử trận tại Gò Sặt, Cao Miên.
Học giả Nguyễn Hiến Lê trong bài "Cuộc bốc mộ vĩ đại của Tuyên Trung hầu Nguyễn Văn Tuyên tại Sa Đéc" đăng trên tạp chí Bách Khoa số ra ngày 1.7.1971 tường thuật: "Cuộc cải táng được xem là quan trọng vì nơi khai quật là Lăng Ông được bao thế hệ người dân sùng kính. Nhưng vì nước sông Tiền xói mòn gây sụp lở, cổng lăng đã nằm kề mặt nước, nhưng nhiều người vẫn còn do dự vì kiêng sợ uy đức của người nằm dưới huyệt. Rồi một hôm ông xã trưởng sở tại được báo mộng phải dời lăng, vì đất sụp lở không còn có thể bảo vệ được khuôn viên khu lăng mộ được nữa. Ngay sau đó ông tới đền thờ đốt nhang xin keo lần cuối".
Cuộc cải táng bắt đầu ngày 15.5.1971, với sự chung tay của người dân và chính quyền địa phương. Ông Nguyễn Trường Chấp, miêu duệ của Tuyên Trung hầu, làm chủ lễ. Lăng xây bằng đá ong, vôi cát trộn với ô dước. Hàng trăm người luân phiên khai quật suốt 4 ngày không xuể, phải nhờ xe chuyên dụng của công binh quân đội. Sau 3 ngày, xe mới khai quật được các huyệt. Tổng cộng có 6 mộ phần, trong đó 2 mộ còn nguyên vẹn. Riêng mộ Tuyên Trung hầu nặng hơn một tấn, phải dùng xe cần cẩu. Quan tài làm bằng gỗ giáng hương, sơn màu đen, sau hơn 140 năm vẫn còn mùi thơm.
Sau một tuần, người ta đặt các hài cốt vào quách mới. Riêng quan tài Tuyên Trung hầu còn nguyên vẹn, bên trong có hòm bọc lụa. Họ tộc thống nhất giữ nguyên, không mở ra, rồi làm lễ di quan đến nền đất cao bên cạnh đền thờ Tuyên Trung hầu ở tả ngạn sông Cái Tàu Thượng. Sau đó, cuộc vận động xây cất lăng mộ được tiến hành với sự hỗ trợ của chính quyền và thân hào nhân sĩ ba tỉnh Sa Đéc, An Giang và Kiến Phong (cũ). (còn tiếp)



