Nén hương tri ân các liệt sĩ: Câu chuyện của một người cháu chưa từng gặp ông nội
Nén hương tri ân các liệt sĩ: Câu chuyện của một người cháu

Mỗi người trong chúng ta, ai cũng từng rưng rưng thắp nén tâm hương lên mộ người đã khuất. Đó có thể là người thân đầy kỷ niệm, hoặc một người xa lạ không rõ tuổi tên. Nhưng có lẽ, những nén hương trên bia mộ các liệt sĩ luôn khiến lòng ta xúc động nhất – xúc động về sự hy sinh của những người con trai, con gái tuổi còn rất trẻ, đã vĩnh viễn nằm xuống, hy sinh cả xương máu và tuổi thanh xuân cho độc lập, tự do của đất nước.

Nỗi đau của những gia đình chưa tìm thấy người thân

Chiến tranh đã lùi xa, chỉ còn lại quá khứ với những hàng bia trắng, những đôi nạng gỗ, những giọt nước mắt. Nhưng vẫn còn biết bao gia đình chưa tìm được mộ người thân. Tôi thường thắc mắc về điều đó mỗi khi nghĩ về ông nội kính yêu của mình. Tôi sinh ra khi đất nước đã bình yên, không còn tiếng súng. Tôi được đón nhận tình yêu thương của bố mẹ, bà nội, các cô chú, nhưng riêng ông nội thì tôi không hề được biết và sẽ không bao giờ được gặp. Bà nội tôi bảo: "Ông nội đã đi xa, xa lắm". Tôi chỉ biết ông qua lời kể đầy kính trọng và những kỷ niệm ít ỏi nhưng sâu sắc của bố. Ông nội tôi đã yên nghỉ ở đâu trên cánh rừng Trường Sơn đại ngàn?

Ngày 27/7 – Ngày tri ân các anh hùng liệt sĩ

Càng lớn, tôi và các em càng thấm thía sự ra đi của ông. Mỗi năm, gia đình tôi đều chuẩn bị chu đáo ngày giỗ ông. Ấu thơ tôi không thể quên được mỗi buổi chiều 26/7 dương lịch, cha tôi chắp tay khấn vái trước bàn thờ ông nội. Lúc đó tôi không hiểu vì sao cha lại thắp hương mà không phải ngày giỗ. Nhưng rồi, cha giải thích: "Ngày mai là 27/7, ngày cả nước kỷ niệm và ghi nhớ công ơn các thương binh, liệt sĩ. Vì thế, cha thắp nén hương lên bàn thờ ông, để ông còn đi duyệt binh, đi hành quân cùng đồng đội cho cứng chân chắc tay". Từ đó, chị em tôi không ai bảo ai đều chuẩn bị những bông hoa huệ thơm dâng lên bàn thờ ông vào chiều 26/7.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Nghĩa trang liệt sĩ – Nơi ghi danh những người con hy sinh

Tháng 7/2001, người dân xã Tam Sơn (Phú Thọ) quê tôi không ai cầm được nước mắt trong ngày khánh thành Nghĩa trang tưởng niệm các liệt sĩ của hai cuộc kháng chiến. Dù biết rằng đó chỉ là những hàng bia gắn tên để tưởng niệm, không có hài cốt hay di vật của thân nhân, nhưng tất cả mọi người đã khóc – những giọt nước mắt hòa trong cơn mưa, tan trong từng nắm đất đưa tiễn các anh linh. Mọi người run lên vì danh sách dài tên các liệt sĩ của xã, run lên vì những năm tháng ấy, xã bé nhỏ này đã lần lượt nhận bao nhiêu giấy báo tử. Nhờ khu nghĩa trang này, chúng tôi nhận thức sâu sắc sự hy sinh to lớn của thế hệ đi trước, và tôi được thắp nén hương lên phần mộ của ông nội trong ngày 27/7 như một sự bù đắp dù ít ỏi.

Hy vọng tìm lại phần mộ người thân

Tôi theo học nghề báo, ngoài tình yêu nghề còn là sự theo đuổi hy vọng: Nghề báo được đi nhiều, đi xa, biết đâu sự mách bảo của tâm linh sẽ giúp tôi tìm được phần mộ của ông nội. Tôi hiểu, rất có thể xương thịt của ông đã tan vào lòng đất, nhưng tôi và cha tôi cũng như nhiều thân nhân khác vẫn mong đón được người thân trở về. Mỗi lần có dịp thăm viếng một nghĩa trang liệt sĩ, tôi không bao giờ quên thắp nén hương lên từng phần mộ, như một cách gửi gắm niềm tin rằng ở nơi nào đó, ai đó cũng đã thắp hương cho phần mộ của ông nội tôi mà gia đình chưa có dịp thăm viếng.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Những nghĩa trang liệt sĩ – Chứng nhân lịch sử

Chiến tranh đã kết thúc bằng đỉnh cao chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Nhưng chiến tranh cũng để lại những nghĩa trang rộng lớn, bước chân người đi đã mỏi mà vẫn không thắp hết những nén nhang thơm. Tôi đã từng đón nhận sự thanh thản tĩnh lặng của Nghĩa trang Liệt sĩ Mai Dịch, ngồi bên mộ cụ Văn Cao – tác giả bài quốc ca bất tử. Tôi đã bước đi thật khẽ giữa những hàng bia có gắn sao tại Nghĩa trang Hàng Dương, Trường Sơn, Đường 9. Tôi đã cúi cầu xin được hít chút hương bồ kết dịu dàng nơi Nghĩa trang Liệt sĩ Ngã ba Đồng Lộc, như thấy đâu đó mái tóc của những cô gái mười tám, đôi mươi trong chiếc cặp ba lá. Tôi xúc động khi chứng kiến người lính già ở tuổi gần đất xa trời lên với Điện Biên lần này mà không dám hẹn lần sau – những người lính mái đầu bạc trắng viếng Nghĩa trang Liệt sĩ A1 như đang đứng trước hàng quân, chào đồng đội lần cuối.

Thay đổi cách gọi từ “vô danh” thành “chưa biết tên”

Nhà thơ, nhà báo Văn Hiền đã viết trong bài thơ “Xin đừng gọi anh là liệt sĩ vô danh”: “Bình yên sau cuộc chiến tranh / Anh trở về không tên, không tuổi / Trắng hàng bia những ngôi sao không nói / Rưng rưng cỏ mọc dưới chân”. Bài thơ ra đời từ nỗi day dứt khôn nguôi khi chứng kiến những hàng bia trắng khắc dòng chữ “liệt sĩ vô danh” tại các nghĩa trang. Tác phẩm đã chạm đến trái tim hàng triệu độc giả, góp phần thay đổi cách gọi trên bia mộ từ “vô danh” thành “chưa biết tên” để trả lại danh tính cho những người con đã ngã xuống vì Tổ quốc.

Lịch sử không chỉ được ghi trong biên niên, mà còn sống động qua những con người bình dị đã làm nên thời đại. Tôi yêu Tổ quốc tôi bằng tình yêu với ngôi nhà của nội – ngôi nhà đã bao lần phải chạy nước sông Lô mùa lũ, ngôi nhà đã nuôi cha tôi lớn lên và đón mẹ tôi về làm dâu, ngôi nhà đã ru tôi những khúc hát bên nôi, và từ ngôi nhà này, ông nội tôi đã vĩnh viễn ra đi, hòa tan vào núi, vào sông của đất nước.