Người S'tiêng giữ hồn văn hóa qua nghề truyền thống
Người S'tiêng giữ hồn văn hóa qua nghề truyền thống

Trong truyền thuyết dân gian, người S'tiêng tin mình do các vị thần sinh ra, và văn hóa ấy vẫn bền bỉ chảy trong huyết quản họ. Theo báo cáo di sản của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Phước cũ, người S'tiêng vẫn thực hành và truyền dạy nghề truyền thống đều đặn. Đến với người S'tiêng ở Đồng Nai, du khách vẫn cảm nhận không gian trong veo của núi rừng thời “đuốc lồ ô bập bùng ánh lửa”, tiếng sột soạt trên tà áo thổ cẩm của nàng Lươm Koon Gơôr trốn trong khung dệt, tiếng chày giã gạo nhịp nhàng và âm thanh cồng chiêng vọng về.

Điểu Xia và hành trình giữ lửa văn hóa

“Không ai có thể làm thay và giữ gìn văn hóa truyền thống của cộng đồng dân tộc mình. Chính người mình, dân tộc mình phải gìn giữ giá trị văn hóa đó”, Điểu Xia, con gái của “huyền thoại căn cứ Nửa Lon” - già làng Điểu Lên, tâm sự. Gặp ở Bom Bo, Điểu Xia là cán bộ xã, da bánh mật, người chắc nịch, mang dáng vẻ của những nàng Điểu Nhíp trong truyền thuyết. Sau nhiều năm nghiên cứu, cô tự tin kể chuyện văn hóa S'tiêng thay cho cha.

Nhà Điểu Xia nằm gần Trung tâm di tích Bom Bo, lỉnh kỉnh vò rượu cần, chai lọ, những mảnh vải dệt nhiều màu sắc và những chiếc gùi của người S'tiêng. Lâu lâu, nhà Xia trở thành điểm hẹn cho những ai muốn dệt vải, nấu rượu, đan gùi. Người ta đến gặp Xia để tìm đơn hàng, ý tưởng sản phẩm và không gian trao đổi. Gia đình Xia là hộ đầu tiên ở Bom Bo phát triển rượu cần của người S'tiêng thành sản phẩm thương mại, lấy tên Rượu cần Điểu Lên. Qua nhiều năm, quy mô sản xuất ổn định, nhiều thành viên trong họ cũng tham gia.

Banner rộng Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác cho Telegram

Rượu cần - thức uống linh thiêng

Rượu cần của gia đình Xia làm quanh năm. Khí hậu Bình Phước nóng ẩm về mùa mưa, mát lạnh về mùa đông - điều kiện lý tưởng để các loài thực vật làm nguyên liệu cho men rượu phát triển. Người S'tiêng từ bao đời đã dùng cây rừng để tạo nên thứ rượu với mùi vị đặc trưng. “Rượu ủ sáu tháng là ngon, nhưng ủ hơn một năm là vị thuốc”, Xia giải thích. Nhưng nhà chẳng mấy khi có bình rượu nào để được một năm, bởi làm bao nhiêu là có khách đến mua hết.

Cũng ở Tân Hưng, nghệ nhân Thị Chanh vẫn làm rượu cần. Bà chọn lựa nguyên liệu kỹ lưỡng và buồn vì nhiều người mang mác rượu cần S'tiêng ra khoe nhưng làm không đúng, uống vào là biết ngay. Vò rượu cần phải làm sao để uống tới cuối vẫn còn say, ấy là cách người S'tiêng như bà Chanh cần mẫn lưu giữ. Bà bảo mình làm chẳng phải để bán: một vò rượu vài trăm nghìn, trong khi công kiếm vỏ cây, chuẩn bị men mất bao nhiêu tháng. “Để đừng mất phong tục người S'tiêng, để con cháu đừng có quên”, bà nói.

Dệt thổ cẩm - ký ức và hiện tại

Ở tuổi 57, nghệ nhân Thị Châm, ấp 7, xã Tân Hưng vẫn giữ thói quen dệt vải mỗi khi rảnh rỗi. Bà kể: “Ngày xưa mẹ nấu nướng, dệt vải, mình bắt chước rồi làm theo. Dệt lâu lắm, một tuần, hai tuần mới xong một tấm. Một tấm dệt khoảng 300 nghìn đồng, con cháu có bán qua mạng nhưng ít người mua”. Trong ký ức của bà, chiếc khung dệt lưu giữ hành trình nhọc nhằn từ nhỏ sống với gia đình, cuộc sống dựa vào rừng, rẫy. Bà nhớ lại thời làm lúa thu không được bao nhiêu, chỉ hai ba bao, phải lấy lúa non ăn, khổ cực lắm. Những ngày lên rừng hái măng bán đổi lấy 2-3 kg gạo, mai lại đi kiếm nữa.

Banner sau bài viết Pickt — ứng dụng danh sách mua sắm cộng tác với hình minh họa gia đình

Bà Châm và chồng là ông Điểu Ngoa lấy nhau từ năm 1987, đám cưới có tín vật định tình là tấm vải do bà tự tay dệt. Nhớ lại tục bắt rể và lời thề bằng tiếng mẹ đẻ, bà kể: “Nhà tôi theo tục bắt rể. Lúc ấy có biết nói gì đâu. Chỉ biết người già dặn: Slanh chầng sai kna, nghĩa là thương nhau lấy nhau”. Giao lễ ngắn gọn nhưng sợi dây tình cảm gắn kết hai người từ năm 1987 đến khi ông Điểu Ngoa mất năm ngoái. Bà Châm rơm rớm nhớ lại ngày “Slanh chầng sai kna”. Từ ngày ông mất, chiếc khung dệt càng gắn bó. Kinh tế gia đình ổn định hơn nhờ canh tác cao su, con cái lớn, người đi làm công ty, người đi nghĩa vụ quân sự, nhưng bà vẫn không thể quên khung dệt.

Nghệ nhân Thị Hia, xã Tân Hưng, cho biết bà đã dệt gần 50 năm nay: “Mình làm để có cái cho con cháu nó nhớ”. Cứ mỗi khi rảnh rỗi, những người phụ nữ S'tiêng lại miệt mài với từng sợi chỉ.

Đan gùi - nghề của người đàn ông

Nghệ nhân Điểu Lon A (xã Tân Hưng, sinh năm 1950) nhớ về một vùng rừng rậm có hổ, beo và dòng suối Đắk Lóc sạch trong. Thời xưa, cây lồ ô và các loại dây rừng còn nhiều, ông thường vào rừng kiếm nguyên liệu đan gùi. Gùi của người S'tiêng chia làm hai loại: pan ệ (gùi nhỏ) và pan tưng (gùi lớn). Điểu Lon A có kỹ thuật nhuộm sườn gùi bằng sơn đen và đỏ, kết hợp màu sắc vốn có của cây rừng, khiến nhiều chiếc gùi của ông được mua sưu tầm hoặc đưa đi trưng bày ở bảo tàng. Để hoàn thành một chiếc gùi nhỏ, ông mất hai ngày, gùi lớn mất khoảng bốn ngày. “Cái này làm ít thôi, nếu cứ đều tay hai ngày là xong. Ngày xưa ông già dạy tôi làm. Bây giờ, muốn dạy mấy đứa trẻ làm mà chúng làm biếng không”, ông tâm sự. Các con ông ăn học đầy đủ, giờ làm tỉnh, làm xã, không đứa nào mặn mà với đan gùi.

Truyền dạy và giữ gìn

“Người cha sẽ chịu trách nhiệm truyền lại nghề rèn và nghề đan gùi cho con trai, còn người mẹ truyền nghề dệt thổ cẩm và nghề làm rượu cần cho con gái”, Điểu Xia giải thích. Không còn nhiều không gian rộng lớn, mỗi người tìm cách giữ lửa trong ngôi nhà của mình. Khi không phải làm cao su hay bận nương rẫy, bà Thị Châm vẫn mở khung ra dệt: “Làm rẫy xong về dệt một lúc. Chừng một tuần mới xong một tấm”. Đây là khung dệt mẹ bà để lại, bà trân trọng món thừa kế. Di sản ấy quý ngang con trâu.

Điểu Xia được xem như cánh chim đầu đàn của thế hệ sau chiến tranh, đang nỗ lực giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. “Tấm thổ cẩm truyền thống hội tụ văn hóa của người S'tiêng trên đó”, Điểu Thị Xia nhấn mạnh. Trên vải có hình bậc thang của những thửa ruộng, hình những hạt giống trên nương, hình con cuốn chiếu ở những mái nhà dài. Màu sắc đến từ thiên nhiên: màu trắng từ nước vo gạo, màu đỏ từ cây Tmri-on. Xia tự tin vào năng lực sản xuất của cộng đồng: nếu giải quyết được đầu ra, cô có thể kêu gọi hơn 100 chị em dệt thổ cẩm, đáp ứng những đơn hàng lớn. “Ở đây nhiều chị em vẫn giữ được nghề, chỉ thiếu đầu ra thôi”, Xia băn khoăn.

Xưa 10 năm, già làng Điểu Lên vác đơn kiến nghị trả lại tên Bom Bo, với tâm niệm nếu chỉ còn thôn 1 hay tên khác, thế hệ sau sẽ lãng quên truyền thống. Giờ đây, ở Bù Đăng (cũ), một thế hệ cả già lẫn trẻ đang lặng lẽ nối dài truyền thống, giữ văn hóa S'tiêng trong mỗi căn nhà.

Già làng Điểu Lên (sinh năm 1945) là một trong những huyền thoại sống của đồng bào S'tiêng tại sóc Bom Bo. Ông tham gia cách mạng từ năm 15 tuổi, chiến đấu bảo vệ căn cứ Nửa Lon và sóc Bom Bo, tham gia gần 50 trận đánh trong kháng chiến chống Mỹ. Ông 3 lần được phong tặng danh hiệu “Dũng sĩ”, được Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng nhất và Huân chương Quyết thắng hạng nhất. Năm 1998, do thay đổi hành chính, sóc Bom Bo bị đổi tên thành Thôn 1. Suốt 10 năm, già làng Điểu Lên cùng bà con kiến nghị các cấp, đến cuối năm 2012, huyện Bù Đăng chính thức đổi tên Thôn 1 trở lại thành thôn Bom Bo. Hiện nơi này thuộc xã Bom Bo, TP Đồng Nai. (Còn nữa) Phương Mai, Thanh Tâm